Tùng Bưởi Hồng

Chào mừng bạn! Cuốn sách này hoàn toàn miễn phí. Đọc ngay để khám phá tri thức mới.

Ebook EPUB Tâm linh

Tùng Bưởi Hồng

Thích Nhất Hạnh

Giới thiệu tác phẩm

Tác phẩm của Thiền sư Thích Nhất Hạnh về thực hành chánh niệm, nuôi dưỡng lòng từ bi và tìm kiếm sự an lạc trong tâm hồn qua giáo lý Phật giáo hiện đại.

Chia sẻ

Đọc thử tác phẩm

Xem trước một vài chương đầu tiên trực tiếp từ bản thảo EPUB.

CHƯƠNG ĐỌC THỬ

Hồng

Ở  biển Nam Hải có một con cá màu hồng rất tinh khôn và nhanh nhẹn. Cá dài chừng chín tấc, vảy màu ửng đỏ sáng đẹp. Mỗi khi cá ngoi lên gần mặt nước, màu hồng của vi vảy làm ngời sáng cả những gợn sóng lấp lánh ánh mặt trời. Ngư thuyền trong vùng ít khi gặp được cá. Hành tung của cá thật là bí mật. Chỉ có một người biết rõ được nguồn gốc của cá. Đó là một cô gái người Việt tên Đào.

Đào mười chín tuổi. Cô với người yêu cùng vượt biển với bốn mươi hai người khác trên một chiếc thuyền bề rộng hai thước rưỡi và bề dài mười một thước. Thuyền của cô bị hải tặc chặn cướp trên con đường từ cù lao Quái đến cù lao Chàng. Bọn hải tặc vơ vét tất cả những gì chúng có thể vơ vét được và còn hiếp dâm tất cả phụ nữ trên thuyền. Đào cũng chịu chung số phận với những người khác. Cô bị ba tên hải tặc thay nhau hãm hiếp. Những người con trai nào trên thuyền chống lại hải tặc đều bị chúng trói lại và đánh đập. Chồng chưa cưới của Đào cũng chịu chung số phận này. Trong cơn kinh hoàng, cô chỉ biết vùng vẫy la hét. Vì cô la hét và cào cấu quá cho nên tên hải tặc thứ ba, sau khi thỏa mãn thú tính đã lấy chân hất cô xuống biển. Cô đã được con cá Hồng cứu thoát và đưa vào bờ cát của một hòn đảo nhỏ không tên, cách cù lao Chàng chừng mười tám cây số về phía Tây Nam.

Khi Đào bị hất xuống biển, cô la lên một tiếng thất thanh. Nhưng tiếng kêu của cô cũng như thân thể của cô trong khoảnh khắc đã bị chìm nghỉm. Biển cả đã nuốt cô. Đào ngất đi. Khi tỉnh dậy, sáng hôm sau, Đào thấy mình nằm trên một bãi cát vắng. Thân thể cô rã rời đau nhức. Cố gắng mãi cô mới chống tay ngồi dậy được. Nước biển còn liếm tới bãi cát cách chân cô chừng vài thước. Cô gắng gượng đứng lên, và lảo đảo đi về phía có mấy tảng đá có bóng cây rợp mát. Tới nơi, cô ngồi bệt xuống đất, dựa vào một tảng đá, và thở.

Đào biết mình còn sống. Cô bắt đầu nhớ lại những gì đã xảy ra ngày hôm qua trên thuyền. Cô đưa hai tay bưng đầu không dám nhìn ra biển cả, tưởng rằng bọn hải tặc vẫn còn đó. Nhưng không, cảnh tượng hãi hùng hôm qua đã không còn nữa. Nhìn lại, cô chỉ thấy mặt biển mênh mông và sóng trên biển nối tiếp nhau dạt vào bờ cát. Cô nhớ đến những tấm thân thô bạo trên thân hình cô. Cô rùng mình nghiến răng, nước mắt ràn rụa đầy hai má. Cô nhìn xuống thân thể cô. Trên thân hình đau nhức ấy không còn lấy một mảnh vải. Cô hổ thẹn vội đưa hai tay che lấy ngực và nhìn ra. Không, vẫn không có ai. Mặt biển phản chiếu lấp lánh ánh mặt trời. Không có một đám mây nhỏ. Trời xanh ngắt. Không có một dấu hiệu nào, một chấm đen nào ở ba phía chân trời.

Cô nhớ tới Đạt, người yêu của cô. Chắc là giờ đây Đạt đã chết rồi. Hôm qua chàng đã bị bọn hải tặc trói lại và đánh đập tàn nhẫn. Cô chỉ cào cấu bọn chúng mà thôi, vậy mà chúng đã hất cô xuống biển, huống gì Đạt: chàng đã xông vào liều thân với bọn cướp biển. Chúng đã đánh ngã Đạt, trói chàng lại. Thế nào chúng cũng đã hất chàng xuống biển. Đào nghẹo ngào. Cô đưa tay ôm ngực, hổn hển, làm như khí trời không đủ cho cô thở. Cô buông hai tay, nằm ngửa trên mặt đất, như một người đã tắt thở.

Cảm thấy mệt mỏi và cùng cực, Đào nhắm mắt lại, nghĩ rằng mình sẽ tắt thở và chết trên hòn đảo hoang này. Nhưng cô không tắt thở. Hơi thở của cô đều đặn lại, và cô thiếp đi trong mệt mỏi. Cô thiếp đi như thế cho đến khi mặt trời lặn xuống và mặt trăng lồng lộng hiện rõ trên bầu trời bao la thì cô tỉnh dậy. Có một bàn tay nhỏ đặt trên trán cô. Đào giật mình ngồi nhỏm dậy, đưa hai tay lên che ngực. Trước mặt cô là một em bé gái chừng mười tuổi, tóc chấm ngang vai, hai mắt đen nháy. Em bé mặc một chiếc áo màu hồng.

-  Em là ai? Tại sao lại ở đây? - Đào vội vàng hỏi. Em bé đáp:

-  Em tên là Hồng. Em tới đây từ lúc mặt trời chưa lặn. Nói tới đó, Hồng đứng dậy rút từ cành cây trên đầu hai người một bộ xiêm y rồi đưa cho Đào. Em nói tiếp:

-  Chị mặc mấy thứ này vào cho đỡ lạnh, rồi chúng ta hãy nói chuyện. Sương bắt đầu xuống rồi, và chị đang run đó, chị có thấy không?

Đào tiếp lấy bộ xiêm y trên tay em bé, run rẩy mặc vào người. Đây là một bộ xiêm y của phụ nữ Việt còn thơm mùi long não. “Em bé này là ai mà một mình lạc vào đảo?”. Đào vừa cài khuy vừa suy nghĩ. Hay đây là một bóng ma hiện hình khủng bố cô?

Vừa lúc đó thì em bé lên tiếng:

-  Em là người, không phải là ma đâu chị. Em sinh ở Vĩnh Long, và cha mẹ em từ bảy năm nay buôn bán ở thị xã Vĩnh Long. Chị ngồi xuống đây, ăn mấy cái bánh này rồi chị em mình nói chuyện.

Đào ngồi xuống bên cô bé. Hồng mở một cái hộp thiếc lớn, lôi ra một chiếc bao ny lông đầy bánh. Em lấy răng cắn thủng một góc bao, dùng ngón tay mở rộng chỗ thủng và lấy hai cái bánh vuông, đưa cho Đào. Ruột gan Đào cồn cào khi trông thấy bánh. Cô đưa tay nhận bánh và bỏ vào mồm nhai ngấu nghiến. Từ trưa hôm qua đến giờ, cô chưa có một hạt cơm bỏ bụng.

Bánh Đào đang ăn thuộc về loại bánh lạt, một loại crackers để dùng ăn với sữa. Mỗi chiếc bánh lớn bằng bốn ngón tay Đào. Ăn hết chiếc bánh đầu tiên, Đào hỏi:

-  Bánh ở đâu mà em có vậy?

Hồng cười:

-  Đây là một trong những thùng bánh mà một chiếc tàu Đan Mạch liệng xuống biển. Chị ăn bánh đi, rồi từ từ em giải thích cho, đừng có mở mắt to nhìn em như vậy. Số là hôm nay có một chiếc ghe tị nạn hết nước uống và lương thực. Trên ghe có tám mươi bốn người, mà hai phần ba là trẻ em như em. Máy ghe bị hỏng. Có một chiếc tàu treo cờ Pháp đi qua. Nhiều người trên ghe cởi áo phất qua phất lại cầu cứu. Chiếc tàu treo cờ Pháp làm ngơ đi thẳng. Mấy giờ đồng hồ sau lại có chiếc tàu treo cờ Anh đi qua. Chiếc tàu treo cờ Anh cũng làm ngơ như không trông thấy. Lúc mặt trời sắp lặn thì có một chiếc tàu treo cờ Đan Mạch đi ngang. Thấy kêu cứu, chiếc tàu này dừng lại và đi vòng quanh chiếc ghe ba lần. Họ không chịu cứu tám mươi bốn người lên tàu họ mà chỉ thả xuống cho hai thùng nước và mười thùng bánh. Bảy thùng bánh rơi trúng ghe, còn ba thùng rơi tõm xuống biển. Thùng bánh mà chị đang ăn là một trong ba thùng rơi xuống biển.

-  Sau đó chiếc ghe có gặp tàu khác không? Chiếc ghe có tới được bờ bên kia không? Mà tại làm sao em biết? Em đi trên chiếc ghe đó hả? Còn những người khác bây giờ ở đâu? Ghe chìm chết hết rồi phải không?

-  Chị hỏi nhiều quá khiến em chóng mặt. Dạ không, em không phải là người trên ghe ấy. Ghe chưa chìm. Hiện giờ gió Đông Bắc đang đưa ghe tấp từ từ vào bờ biển Thái Lan. Em hy vọng ghe đó được vào bờ vô sự.

Nói xong Hồng lộ vẻ trầm ngâm. Đào muốn hỏi nữa nhưng ngài ngại. Đây đúng là một em bé, nhưng phong thái và cách ăn nói của em thật là khác thường. Một đứa bé mười tuổi trôi dạt vào một hải đảo, xa cha mẹ và các anh chị, thì không thể nào ăn nói bình tĩnh chững chạc như vậy được. Đáng lý nó phải khóc la, phải kêu mẹ, phải ôm lấy Đào mà kể lể thì mới đúng. Đằng này, nó ngồi trước mặt Đào, lấy áo cho cô mặc, lấy bánh cho cô ăn và săn sóc Đào như một người chị săn sóc cho một đứa em. Cảnh hoang đảo dưới trăng này hoặc giả chỉ là một giấc mơ, Đào nghĩ. Cô cắn vào môi đau gần rướm máu, và biết đây không phải là một giấc mơ. Vừa lúc ấy Hồng đưa một ngón tay lên làm hiệu cho Đào yên lặng. Một thoáng sau Hồng nói:

-  Em nghe như có tiếng nước chảy róc rách. Có thể là chúng ta sẽ tìm ra nước uống. Chị ngồi yên đây, để em xem.

Hồng đứng dậy, thoăn thoắt nhảy trên những tảng đá và phút chốc biến mất sau lùm cây. Trong lúc chờ đợi, Đào với tay lấy túi bánh và móc ra thêm hai cái bánh. Cô ăn thong thả, mặt hướng về lùm cây. Một lát sau, cô thấy bóng Hồng xuất hiện trên một tảng đá, hai tay đang nâng một vật gì không rõ. Khi Hồng đến gần, Đào thấy đó là một chiếc lá cuốn lại hình một quặn, bên trong đầy nước.

-  Đây là nước ngọt, chị uống đi.

Hồng đưa nước vào tận môi Đào. Nước ngọt quá, ngon quá, làm cho ruột gan Đào mát rượi.

-  Chị uống hết đi, em đã uống rồi.

Đào uống hết nước. Cô cám ơn Hồng. Hồng bảo:

-  Ở gần suối nước có một khoảng đất sạch và kín gió. Chị em mình có thể nghỉ đêm ở đấy được. Ngồi đây lạnh quá. Vả lại giữa khuya nước có thể lên cuốn chị em mình xuống biển lắm.

Hồng bỏ túi bánh vào thùng, trao cho Đào cầm và cúi xuống xách cái bọc quần áo lên. Hai chị em men theo con đường cũ trở lên suối. Trăng hải đảo sáng vằng vặc. Trời vẫn trong, không một gợn mây. Hồng đợi Đào ngồi xuống rồi mới nói:

-  May mắn chúng ta đã tìm ra được con suối nước ngọt này. Có thùng bánh lạt Đan Mạch, ít ra chúng ta cũng có đủ thức ăn cầm hơi trong chừng mười bữa hay nửa tháng. Chúng ta ăn bánh, uống nước suối và sẽ đi tìm trong đảo xem có thứ rau, thứ trái gì để ăn cho bớt xót ruột. Trong thời gian đó, chúng ta để ý xem có chiếc ghe tị nạn nào đi ngang gần đây không. Ta sẽ cầu cứu và khi họ ghé vào, ta sẽ cùng xin đi với họ. Cái bọc áo quần và thùng bánh này em nhặt được ngoài bãi cát hồi chiều qua. Lúc em lên đảo thì chị đang ngủ. Thấy chị không có quần áo, em mới mỏ bọc tìm một bộ đồ, vắt cho ráo rồi treo lên cành cây cho khô để chị mặc. Những bộ quần áo còn trong bọc này, ngày mai ta sẽ vắt phơi để đắp ngủ thay mền cho ấm. Nếu chị chưa mệt thì chị kể cho em nghe chuyện của chị đi, chị.

Đào bắt đầu kể chuyện vượt biển của mình cho Hồng nghe. Cha cô là một nhà văn bị đi học tập ở miền thượng du Bắc Bộ từ năm 1976. Mẹ cô dành dụm trong hai năm mới đủ tiền đi thăm nuôi chồng một lần. Từ đó về sau, mẹ cô và cô chỉ có đủ tiền để viết thư, gửi cho cha cô một hũ đường và một chai muối sả mỗi ba tháng. Có lần trong sáu bảy tháng liên tiếp gia đình không nhận được thư từ gì của cha cô cả. Lần đầu gặp được cha cô tại trại học tập, mẹ cô thấy ông gầy ốm và tiều tụy đến thảm thương. Ông đã xúi mẹ con cô trốn qua nước khác mà sinh sống, nhưng mẹ cô nói còn nước thì còn tát, rằng chồng bà còn sống thì bà còn chờ đợi. Trong khi đó thì sự sống mỗi ngày một trở nên khó khăn. Cô và thằng em trai lớn của cô – thằng Văn, năm nay mười sáu tuổi – hết sức giúp mẹ trong việc buôn bán, nhưng không đủ ăn. Cô có một người bạn tên Nguyên. Gia đình của Nguyên cũng lâm vào cảnh túng thiếu như cô, nhưng nhờ có thân nhân sống ở ngoại quốc, nên đời sống của họ đỡ khổ hơn nhiều. Cứ mỗi hai tháng họ nhận được một gói quà từ ngoại quốc trong đó có bột ngọt, thuốc lá ba số 5, bơ, phô mai, thuốc trụ sinh và những loại xa xỉ phẩm khác. Các thứ này họ đem bán lấy tiền mua gạo và những thứ cần thiết khác. Khi chồng chưa cưới của Đào ngỏ ý vượt biên, cô băn khoăn lo sợ. Cô không lo sợ cho cô mà cô sợ bỏ mẹ, bỏ em ở nhà. Mẹ của cô ôm cô khóc một đêm, nhưng cũng đồng ý để cô đi. Cô để lại tất cả tư trang và áo quần cho mẹ, chỉ đem theo cái bằng tú tài và một bộ đồ mặc trên mình. Cô thức một đêm với Văn, ký thác gia đình cho em. “Hễ qua được Mã lai, chị sẽ đánh điện cho em liền”. Ghe của cô hư máy lênh đênh trên biển đã mười sáu đêm ngày và rốt cuộc bị bọn cướp biển tấn công. Cô bị ba tên cướp biển làm nhục, và tên thứ ba đã hất cô xuống biển. Đạt bị trói và đánh đập dã man. Có lẽ chàng đã chết rồi, và mọi người trên ghe có thể cũng đã chết rồi. Cô bưng mặt, nước mắt cô lại tuôn ra như suối. Cô gọi mẹ, gọi em, gọi tên người yêu. Cô nói cô muốn đập đầu vào đá để chết.

Hồng im lặng nghe, thỉnh thoảng cầm lấy tay Đào trong hai tay mình và bóp thật chặt. Em không hề ngắt lời của cô. Đến khi Đào đứng dậy định đập đầu vào đá thì em ôm cô ghì chặt lại. Hồng có một sức mạnh kỳ lạ khiến Đào không nhích thêm được một bước. Một lát sau, hết sức. Đào ngã quỵ xuống thở hổn hển. Trời về đêm lạnh mà mồ hôi Đào lấm tấm.

Hồng đỡ Đào ngồi xuống cỏ. Em lấy vạt áo hồng của mình lau mồ hôi trán cho Đào. Đợi cơn đau của Đào dịu xuống, em mới nhỏ nhẹ nói:

-  Chị làm như vậy là chị không nghĩ tới hai bác và các em của chị. Hai bác và các anh chị sẽ khổ đau suốt đời mỗi khi nghĩ đến chị, cho rằng chị đã chết chìm dưới biển. Trong khi đó thì chị đang ở trên đất liền, có cơ hội đón ghe khác để tiếp tục cuộc hành trình. Nếu mà đến nơi đến chốn được thì chị sẽ làm việc để nâng đỡ cho gia đình. Nội cái tin chị được tới bờ bên kia cũng đủ cho bác vui rồi. Huống nữa chị vẫn còn nhiều hy vọng. Chiếc ghe của chị và bốn mươi hai người trên đó rất có hy vọng đến bến bờ bên kia. Bọn cướp sau khi hất chị xuống biển chắc đã tháo lui. Bởi vì chính mắt em trông thấy chiếc ghe đang bập bềnh trôi dạt về hướng Tây Nam. Trong vài ngày nữa có thể thuyền sẽ cặp vào một bờ bến Mã Lai. Anh Đạt rất có thể còn sống và chị còn rất nhiều hy vọng gặp lại anh ấy...

Đào nắm lấy cánh tay trái của em bé trong hai bàn tay mình:

-  Chắc không em? Có chắc là anh Đạt còn sống không em? Mà tại sao em thấy được chiếc ghe chở anh ấy đi dạt về phía Tây Nam? Em đứng ở đâu và thuyền em bây giờ đi về hướng nào? Ba má cùng các anh chị của em hiện giờ ở đâu?

-  Em hứa với chị là mai mốt em sẽ kể chị nghe. Chuyện của em gần như chuyện của chị. Bây giờ đã khuya rồi, chị em mình cần ngủ để sáng mai còn dậy canh chừng ba mặt biển. Chị nằm xuống đây và gối đầu lên cái rễ cây này mà ngủ.

-  Chị cầu Trời khẩn Phật cho anh Đạt của chị còn sống. Em ơi, thân chị bây giờ ô uế rồi, chị không còn xứng đáng với anh Đạt nữa. Chị khổ lắm. Đời con gái giữ gìn từng ly từng tí, vậy mà trong phút chốc bị sa vào tay một bọn cướp biển dã man. Chị không còn hứng thú gì mà sống trên đời này nữa.

Đào khóc rưng rức. Hồng chậm rãi:

-  Có nhiều người trên đời sống không vì hứng thú mà vì bổn phận và vì thương yêu. Mà nói cho tới cùng, sống vì bổn phận và vì thương yêu cũng có thể là một nguồn vui lớn, chị ạ.

Trong cơn đau khổ cùng cực, Đào không nhận thấy ý nghĩa sâu xa của lời Hồng nói, một lời nói thật ra không thể phát ra từ cái miệng xinh xắn của một cô bé mười tuổi như Hồng. Cho nên Đào lặng thinh. Hồng nói tiếp:

-  Có biết bao người chìm ghe chết và bị lũ cá mập rỉa thịt, rỉa xương. Nhưng không phải chỉ ở dưới biển sâu mới có cá mập, thưa chị. Trên đất liền cũng có cá mập. Chúng rỉa thịt, rỉa xương tủy của chúng ta mà sống. Bọn cướp biển kia cũng là một loại cá mập có phải không chị? Có thể là vì bị những con cá mập khác trên lục địa chèn ép cho nên chúng mới ra biển để làm cá mập trên thuyền. Cá mập dưới biển rỉa hàng chục, hàng ngàn đồng bào của chị. Cá mập trên thuyền lại rỉa hàng chục ngàn đồng bào khác. Chị bị ba con cá mập rỉa đói. Chị đã gánh chịu một phần cái khổ đau cùng cực của đồng bào chị. Trong chúng ta, có ai mà không bị thương tích? Có ai mà bảo tồn toàn vẹn được thân thể và tâm hồn? Với con mắt em, em vẫn thấy chị trong trắng và trinh bạch một cách hoàn toàn. Bọn cướp biển bức bách chị, cưỡng đoạt chị, nhưng không lấy được gì của chị hết. Chị chưa bao giờ muốn đem thân thể của chị để đưa cho chúng nó. Chị không có lỗi lầm gì hết. Vết thương của chị, cũng như vết thương do một con cá mập gây ra, một ngày kia sẽ lành. Miễn là chị phải chạy chữa đừng để nó làm độc. Vết thương làm độc thì chị chết. Vết thương có thể làm độc tinh thần chị cũng như làm độc thể xác chị. Chừng mười ngày nửa tháng nữa thì chị em mình có thể qua được bờ bên kia. Chúng ta sẽ cố gắng xin với một bác sĩ chữa trị và chặn đứng chất độc của vết thương trong thân thể chị. Còn vết thương tinh thần thì không có bác sĩ nào chữa trị được cho chị hết. Chị phải chữa trị lấy.

Những lời nói của Hồng thấm dần, thấm dần vào toàn thân Đào. Cô nằm im lặng. Nước mắt cô tuôn trào nhưng cô đã cảm thấy dễ chịu hơn. Một lúc lâu sau đó Hồng nói:

-  Hồi ở nhà em được nghe bà ngoại em tụng Tâm Kinh Bát Nhã mỗi buổi tối. Em không hiểu lời kinh, nhưng mỗi lần nghe kinh là em thấy khỏe khoắn trong người. Chị mệt lắm, buồn lắm phải không? Chị im lặng để em đọc Tâm Kinh cho chị nghe nhé?

Rồi không đợi Đào trả lời, Hồng bắt đầu đọc Tâm Kinh Bát Nhã theo giọng của bà ngoại Hồng. Em đọc Tâm Kinh này luôn nhiều lần. Càng nghe Đào càng thấy nỗi đau của mình lắng xuống, êm dịu lại. Nước mắt vẫn chảy trên má cô, nhưng nước mắt bây giờ ngọt như nước cam lộ. Hồng chưa đọc xong hết “biến” thứ tư thì Đào đã thiếp đi. Cô ngủ cho đến sáng hôm sau khi nắng lên thì cô mới thức dậy.

* * *

Khi Đào thức dậy thì không thấy Hồng đâu cả. Nghĩ rằng Hồng thức dậy trước mình và đi chơi đâu đó lang thang trên đảo, Đào tới gần suối vốc nước rửa mặt. Cô lấy nước suối vã lên đầu tóc để rửa bớt chất mặn của nước biển. Rồi cô leo lên một tảng đá, nhìn quanh bốn phía. Nắng đã chiếu tràn lan trên mặt biển và hải đảo. Trời vẫn trong không một gợn mây. Chợt cô thấy xót xa trong ruột. Cô chạy về lấy một tấm bánh, cắn từng miếng nhỏ, nhai thật kỹ trước khi nuốt. Bánh thơm và có nhiều chất béo, rất là ngon miệng. Cô không dám ăn thêm, sợ thùng bánh mau hết. Cô vốc nước ngọt uống đầy bụng. Rồi cô mở bọc áo quần ướt ra quan sát. Trong bọc còn có một bộ bà ba màu tím, một cái áo montagut màu sữa đã cũ, một cái khăn tắm màu vàng khá lớn và một bộ đồ bà ba của trẻ em màu khói hương. “Bộ đồ này chắc Hồng mặc vừa”, cô nghĩ như vậy và đem các thứ nói trên tới bờ suối để giặt. Áo quần còn sạch, cô chỉ cần xả đi cho hết mùi nước biển mà thôi. Cô vắt tất cả cho ráo nước và đem phơi trên những tảng đá có nắng chiếu vào. Cô làm xong việc mà Hồng vẫn chưa về. Cô đưa hai tay chụm lên miệng và gọi lớn tên Hồng nhưng không nghe tiếng Hồng đáp lại. Tiếng của chính cô dội lại làm cô hơi lo sợ. Cô bèn yên lặng. Men theo bờ suối cô đi lên đảo, với hai bàn chân không. Cô chọn những chỗ có cỏ hoặc có tảng đá để bước cho đỡ đau chân.

Cây cối trên đảo toàn là cây dại. Để ý, cô trông thấy một cây ổi. Cô hái một lá, vò nát, để lên mũi ngửi. Đúng là mùi thơm của lá ổi. Cô mừng như gặp một người thân. Nhà ngoại cô ở Cần Thơ có một cây ổi. Hồi còn bé cô cứ hay trèo lên cây ổi đó để chơi và để hái ổi ăn. Ngoại cô cứ rầy tại sao con gái mà lại leo cây, cô không hiểu. Nhưng cô không nghe lời ngoại, cứ leo lên cây ổi đó hoài. Đứng trên một cành ổi mà nhún thì vui lắm. Nhành ổi rất dẻo, ít khi nào bị gãy. Thằng Văn, em cô có lần trèo lên cây bông sứ trước nhà bị té, bởi vì lần ấy cái cành sứ trên đó nó đứng nhún bị gãy. Cô biết cành sứ dễ gãy cho nên không trèo lên cây sứ. Vả lại cây sứ mọc ở sân trước, cô không muốn cho những người qua lại thấy cô trèo cây.

Trong thế giới lạ lùng này, cây ổi là một người quen. Cô lưu luyến đứng dưới gốc nó. Nhìn lên, cô chỉ thấy mấy trái ổi non. Nhưng cô rất muốn nếm, cô rất thèm hương vị của ổi. Cô nhìn quanh xem có ai không (lạ chưa, trên hoang đảo này có thể có ai mà phải nhìn) rồi nắm một cành ổi, nhún chân nhảy lên thân ổi. Cô không nhảy lên được, bởi vì sức cô đã quá yếu. Cô bèn bẻ một cành cây khô, khoèo nhánh ổi xuống. Một lúc sau, cô vít được cành ổi, kéo nó xuống thấp, và hái được trái ổi non. Cô lấy tay chùi vỏ ổi và đưa lên miệng cắn. Trái ổi non chát lắm, nhưng hương vị quen thuộc của nó làm cho cô sung sướng vô cùng. Mới xa cách quê hương có hai tuần lễ, mới xa cách loài người chưa được trọn một ngày tròn mà cô có cảm tưởng đã xa cuộc sống quen thuộc cũ có hàng trăm năm và cách biệt với loài người cách hàng ngàn thế giới.

Nhờ có cây ổi, Đào nhận thức được rằng mình đang đứng trên trái đất, giữa một hoang đảo trong vịnh Thái Lan. Cô nhìn ra trước mặt. Mặt trời ở phía trái của cô, đó là phương Đông, nơi cô đã ra đi. Bên phải cô là bến bờ Thái Lan và xa xa, về phía Tây Nam, là bờ biển Mã Lai, nơi chiếc ghe của Đạt đang trôi dạt tới. Cô tin lời bé Hồng như tin lời một người lớn. Cô bé thật là lạ. Mới từng đó tuổi mà phong độ giống hệt người lớn, nói năng như một người lớn. Càng nghĩ cô càng lấy làm lạ. Từ chiều hôm qua cho đến bây giờ nhiều thay đổi đã xảy tới trong tâm hồn cô và tất cả đều do con bé gây ra. Nếu không có nó chắc cô đã gieo mình xuống biển chiều hôm qua để chấm dứt cuộc đời mình. Một con bé mười tuổi, nhiều lắm là mười một, không thể nói lên những lời từng trải và thấm thía như Hồng đã nói hồi hôm với cô. “Chị đã gánh chịu một phần cái khổ đau cùng cực của đồng bào chị. Trong chúng ta, có ai mà không bị thương tích? Có ai mà bảo tồn toàn vẹn được thân thể và tâm hồn? Em thấy chị còn trong trắng và trinh bạch hoàn toàn. Bọn cướp biển bức bách chị, nhưng chúng không lấy được gì của chị hết... Vết thương của chị cũng như vết thương do một con cá mập gây ra...”.

Chính những lời nói đó đã khởi sự làm dịu bớt nỗi đau trong tâm hồn Đào. Biết bao nhiêu là sự khôn ngoan được chất chứa trong từng ấy câu nói. Ngồi trên ghế học đường bao nhiêu năm Đào đã học được gì để chuẩn bị đi vào đời? Một cô bé mười tuổi đã dạy cho Đào nhiều hơn mười năm đèn sách. Nhưng Hồng là ai? Tại sao Hồng không chịu trả lời những câu hỏi của Đào? Tại sao em lên được hoang đảo này với một thùng bánh và một bao quần áo? Tại sao em biết được ghe của Đào hiện đang theo gió tấp về phía Tây Nam? Tại sao một em bé gái mười tuổi mà lại bình thản và khôn khoan gấp mấy lần một thiếu nữ mười chín như Đào? Hay Hồng chỉ là một con ma? Nghĩ đến đó Đào thấy lạnh run, dù trời đã bắt đầu nắng gắt. Cô men theo lối cũ tìm về chỗ phơi áo để xem lại áo quần cô giặt sáng nay còn không, và thùng bánh cô ăn hôm qua và sáng nay có phải là bánh thật hay không, hoặc tất cả chỉ là giẻ rách và đất sét do ma biến hiện. Nhưng không, Hồng không thể là ma được. Bộ quần áo Đào đang mặc đây đúng là bộ áo quần của Hồng đưa từ tối hôm qua. Cô còn nhớ rất rõ là hôm qua khi tỉnh dậy trên bãi cát, cô không có một mảnh vải che thân. Mà kia rồi, những bộ áo quần cô giặt còn kia, đang được phơi trên các gộp đá. Mà thùng bánh cũng còn kia. Áo quần đã khô, cô đi thu góp và xếp lại thành một chồng. Hồng không thể là một bóng ma được. Nhưng Hồng đi đâu mà bây giờ chưa về? Cô lo ngại. Cô định trèo lên mỏm đá cao gần đấy để nhìn quanh thì bỗng nghe tiếng cười trong trẻo của Hồng từ phía bờ cát. Ngoảnh lại, cô thấy Hồng từ bờ cát đi lên, áo quần cô bé vẫn khô ráo không dính một giọt nước.

Đăng ký tài khoản miễn phí để mở khoá toàn bộ cuốn sách

Bạn đang đọc bản xem trước của tác phẩm. Nhấn nút dưới đây để chuyển sang giao diện đọc sách chuyên nghiệp với đầy đủ công cụ ghi chú và đổi giao diện.

Đọc Tiếp Bản Đầy Đủ

Đánh giá & Nhận xét

Chưa có đánh giá nào. Hãy là người đầu tiên!