Theo Từ điển tiếng Việt, Trung tâm Từ điển Ngôn ngữ học - Viện Khoa học Xã hội Việt Nam 1992:
Linh: hồn người chết (kết hợp hạn chế) thiêng (trang 566).
Linh hồn: như vong linh (trang 566).
Linh thiêng: linh (trang 167).
Linh ứng: linh nghiệm rất nhanh, rất màu nhiệm (trang 1005).
Vong: (nói tắt) vong hồn (trang 1097).
Vong linh: linh hồn người chế́t (trang 1098).
Vong hồn: như vong linh (trang 1097).
Soi: chiếu ánh sáng vào làm cho thấy rõ (trang 847), (các nhà ngoại cảm dùng từ “soi” có nghĩa rộng hơn như: bói, đoán bản mệnh, gia sự…).
Giải: làm cho thoát được cái đang trói buộc, hạn chế tự do (giải sầu, giải thoát…) (trang 389).
Nghiệp: nghề làm ăn sinh sống (trang 785).
Nghiệp luật Karma: năng lượng tiềm tàng trong hành động tương lai mà hậu quả quá khứ đem lại, ý nghiệp, khẩu nghiệp, thân nghiệp - nghiệp chướng.
Nghiệp báo - quả báo: sự đáp lại điều ác hay điều thiện đã làm trong kiếp trước bằng điều ác hay điều thiện trong kiếp sau (trang 785).
Giải tội - giải nghiệp: tha tội cho người làm trái đạo, luật lệ (trang 390) (các nhà ngoại cảm hoặc một số thanh đồng dùng từ “trả nghiệp”).
Sám hối: ăn năn, hối hận về tội lỗi của mình (một lời nói dối sám hối bảy ngày) (trang 891).
Vi pà ka: Quả của nghiệp. Những điều kiện sinh khởi do hành động quá khứ (Đại niệm xứ, tr.385).
***
Sách “Nhân quả” xuất bản chưa đầy hai tháng đã hết. Một số người đã phải phô-tô cho mình và tặng bạn. Mấy tháng qua, tác giả nhận được nhiều điện thoại và thư của độc giả nói lên cảm nghĩ của mình. Ví dụ kỹ sư, lương y Nguyễn Khắc Minh viết dài ba trang, trong đó có câu:
“Sách thực sự có giá trị về mặt luân lý giáo dục con người, làm việc thiện sẽ gặp được điều thiện, làm điều ác sẽ gặp quả báo... Kẻ ác, kẻ bất nhân sẽ bị âm oán, dương oán, không lâu chúng sẽ bị trời tru đất diệt”. Sau đây, xin nêu hai lá thư của GS. TSKH Đặng Vũ Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội KHKT Việt Nam và PGS. TS Đặng Quốc Bảo, nguyên Hiệu trưởng trường Quản lý Giáo dục.