Người Đan Chữ Xếp Thuyền

Chào mừng bạn! Cuốn sách này hoàn toàn miễn phí. Đọc ngay để khám phá tri thức mới.

Ebook EPUB Văn Học & Nghệ Thuật

Người Đan Chữ Xếp Thuyền

Miura Shion

Giới thiệu tác phẩm

Tác phẩm đoạt giải thưởng lớn của Miura Shion kể về lòng kiên trì và đam mê phi thường của những con người dành cả cuộc đời để biên soạn một cuốn từ điển ngôn ngữ. Một câu chuyện sâu lắng về tình yêu từ ngữ và sự kết nối giữa con người.
Chia sẻ

Đọc thử tác phẩm

Xem trước một vài chương đầu tiên trực tiếp từ bản thảo EPUB.

CHƯƠNG ĐỌC THỬ

CHƯƠNG I

Cuộc đời của Araki Kouhei - nếu các bạn nghĩ rằng dùng từ “cuộc đời” là hơi cường điệu - vậy thì nên sửa lại thành: nếu nói sự nghiệp của Araki Kouhei chỉ để cống hiến cho việc biên tập từ điển, thật không phải nói quá.

Araki từ thuở bé đã rất có hứng thú với ngôn từ.

Tỉ dụ như từ “chó” chẳng hạn. Tuy thấy nó ở đó, nhưng lại không có*. Ha ha, buồn cười thật đấy. Giả mà bây giờ bác nói như vậy thì thể nào cũng bị các nữ nhân viên bảo,

Nguyên văn là そこにいるのに, いぬ (Soko ni iru noni, inu). Câu này bác Araki chơi chữ: động từ iru gần đuôi phủ định -nu vào sẽ từ “có” thành “không có”. Nhưng từ “inu” trong tiếng Nhật cũng có nghĩa là “con chó”. Vậy câu này có thể hiểu theo 2 nghĩa: 1. “Ở đó có con chó.” Và 2. “Nó ở đó, mà lại không ở đó.”

“Araki à, anh có ngưng ngay trò đùa của mấy ông già đó đi không”, nhưng nếu hồi còn nhỏ mà đã nghĩ ra được câu này, hẳn bác sẽ rất khoái chí.

“Chó” không phải chỉ đơn thuần là từ chỉ một loài động vật.

Trong một bộ phim mà bác được bố dẫn đi xem lúc bé, có một gã xã hội đen do bị phản bội nên lâm vào cảnh thập tử nhất sinh, khi hắn ta máu me đầy mình đã thét lên rằng, “Lũ chó chính phủ!” Lúc đó Araki đã ngộ ra rằng, mấy tên nội gián được tổ chức đối địch cài vào cũng bị gọi là “chó”.

Ông trùm khi nhận được tin báo đàn em của mình đang hấp hối, liền đứng phắt dậy nói, “Tụi bây còn đứng trơ ra đó làm gì! Mang dao ra đây! Tao phải cho thằng đó chết không bằng chó!”.

Lúc đó Araki lại ngộ ra rằng, từ “chó” cũng mang hàm ý tương đương với “chết một cách vô nghĩa”.

Đối với con người, loài chó là một người bạn vừa khôn ngoan, lại vừa đáng yêu và đáng tin cậy. Ấy vậy mà, cùng một từ “chó” lại có thể dùng để chỉ tên nội gián vô lại hoặc sự vô nghĩa của một việc thì thật là khó hiểu. Loài chó vốn trung thành, đôi khi đến mức lệ thuộc. Đặc tính nổi bật của chúng là luôn cố gắng tận sức vì loài người mà không cần báo đáp. Có lẽ cũng vì thế nên từ “chó” mới bị gán cho những nghĩa tiêu cực như trên.

Tuy Araki đã sớm nảy sinh hứng thú với những chuyện này, nhưng nhận thức của bác về từ điển đến muộn hơn một chút, đó là khi bác được người chú tặng cho quyển “Từ điển quốc ngữ Iwanami” làm quà mừng vào cấp II.

Lần đầu tiên Araki được sở hữu một quyển từ điển của riêng mình, bác rất lấy làm thích thú và thường xuyên giở nó ra tra cứu.

Bố mẹ của Araki kinh doanh một cửa hàng tạp hóa. Họ rất bận, nên dĩ nhiên phương châm dạy con của họ chỉ đơn giản là “Nuôi cho thằng bé khỏe mạnh, không phá làng phá xóm là được”. Tuy đã cất công mua cho con một quyển từ điển, nhưng hai người lại không phải kiểu phụ huynh đốc thúc con cái trong chuyện học hành. Không chỉ có bố mẹ của Araki, mà quá nửa các bậc phụ huynh thời bấy giờ đều như thế.

Dĩ nhiên, Araki thuở nhỏ cũng ham ra đường chạy nhảy với chúng bạn hơn là chăm chỉ học hành, vậy nên thời tiểu học, bác chẳng mấy để tâm đến quyển từ điển quốc ngữ để trong lớp. Giả như quyển sách đó có lọt vào tầm mắt Araki đi chăng nữa, thì đối với bác nó cũng chẳng khác gì vật trang trí.

Nếu nói về cái thú của việc lật một quyển từ điển thì nên nói thế nào nhỉ? Bìa sách bóng loáng này, những dòng chữ được in dày đặc này, cái xúc cảm khi chạm vào từng trang giấy mỏng này. Tất cả những thứ ấy đều hớp hồn Araki. Nhưng thứ thật sự quyến rũ trái tim bác chính là phần định nghĩa của các từ đề mục được viết hết sức ngắn gọn, súc tích.

Vào một đêm nọ, khi Araki đang chơi đùa với đứa em trai trong phòng khách thì bị bố mắng, “Đừng có lớn tiếng thế”. Để thử nghiệm, bác đã thử dò từ “tiếng” trong “Từ điển quốc ngữ Iwanami”. Phần định nghĩa ghi thế này:

Là âm thanh phát ra từ một cơ quan đặc thù trong cổ họng con người hoặc động vật. Còn mang âm hưởng một mùa hoặc thời điểm nào đó sắp tới gần.

Để minh họa, trong sách còn in những đoạn văn sử dụng từ “tiếng”. Như là “lớn tiếng” hay “tiếng côn trùng” thì bác còn có thể nắm bắt được ý nghĩa và cách dùng, nhưng đến “tiếng gọi mùa thu” hay “nghe thấy tiếng gọi tuổi bốn mươi” thì khó mà nghĩ ra ngay lập tức được.

Araki ngẫm nghĩ, cơ mà đúng thế thật. Từ “tiếng” quả thật cũng được dùng để nói đến âm hưởng một mùa hoặc thời điểm nào đó đang đến gần. Có vẻ như nó cũng giống từ “chó”, mang trong mình nhiều hàm nghĩa khác nhau. Những khám phá như vậy khiến cho bác nhận ra ngôn ngữ thường ngày cũng mang nhiều ẩn ý sâu xa mà mình không ngờ tới.

Mặc dù vậy thì định nghĩa “một cơ quan đặc thù trong cổ họng” cũng thật là mông lung quá đi. Araki mặc kệ chuyện bị bố rầy la, lơ luôn cả đứa em trai đang lẽo đẽo bám theo cầu mong sẽ được anh trai đỡ đòn hộ, trước hết cứ phải giở từ điển ra nghiên cứu tiếp cái đã.

Đặc thù: 1. Mang tính chất khác biệt so với thông thường. Thường là sự việc mang tính đặc biệt. 2. [Trong triết học] Ngược lại với tính phổ biến, chỉ những thứ trở thành sự vật, trường hợp riêng biệt.

Cơ quan: Là bộ phận cấu thành nên cơ thể sinh vật, mang những nhiệm vụ nhất định và đảm nhiệm những cơ năng sinh lý nhất định.

Giải thích thế này thì đọc cũng bằng thừa.

Sau khi tra cứu xong, Araki chỉ có thể đoán được rằng “cơ quan đặc thù trong cổ họng” có lẽ là dây thanh đới. Vậy nếu như những người không hề biết dây thanh đới là gì mà đi tra cứu “Từ điển quốc ngữ Iwanami”, có khi cái “cơ quan đặc thù trong cổ họng” ấy sẽ mãi mãi trở thành ẩn số đối với họ mất.

Araki không hề lấy làm thất vọng khi nhận ra rằng từ điển vốn dĩ không phải là quyển sách vạn năng, mà ngược lại tình yêu của bác đối với từ điển ngày một sâu đậm hơn. Mặc dù từ điển đôi khi không thể giúp mọi người gỡ rối, nhưng chính điều này lại khiến người ta phải nỗ lực hơn. Cũng bởi vì nó không hoàn hảo như vậy, mới càng tôn lên lòng nhiệt thành cùng tâm huyết của những người biên tập từ điển.

Chỉ nhìn sơ qua thì sẽ tưởng đây chỉ là một mớ từ ngữ lộn xộn, nhưng cả một danh sách dài như vậy, bao nhiêu định nghĩa, bao nhiêu thí dụ, từng dòng từng chữ đều được ai đó vắt óc nghĩ ra rồi tỉ mỉ ghi chép lại. Kiên nhẫn làm sao! Tận tụy làm sao!

Araki mỗi khi dành dụm được ít tiền tiêu vặt liền chạy ù ra hiệu sách cũ. Từ điển nếu được cho tái bản thì các ấn bản trước thường sẽ được để giá rất rẻ. Araki dần dà sưu tập được nhiều ấn bản của các nhà xuất bản khác nhau để so sánh. Có quyển bị sử dụng quá nhiều nên bìa sách nát bươm. Có quyển vẫn còn sót lại những dòng ghi chú bằng mực đỏ từ người chủ trước. Những quyển từ điển cũ ấy đã hằn sâu trong mình vết tích chiến trận từ bao lần sang tên đổi chủ.

Bản thân Araki cũng muốn trở thành nhà Quốc ngữ học hoặc Ngôn ngữ học để tự tay biên soạn nên một quyển từ điển. Vào mùa hè năm lớp 11, Araki xin bố cho mình được học lên đại học.

“Hả? Quốc ngữ học là cái gì cơ? Mày chẳng phải đang nói tiếng Nhật đấy còn gì! Cần gì phải lên tận đại học để học môn Quốc ngữ nữa.”

“Thật là, không phải vậy đâu bố.”

“Mà thay vào đó, mày cũng nên ra ngoài tiệm phụ giúp mẹ mày đi chứ. Bả đang kêu đau hông suốt kia kìa.”

Thuyết phục được ông bố không hề hiểu chuyện chính là người chú đã tặng cho Araki quyển “Từ điển quốc ngữ Iwanami”.

“Coi kìa, anh hai.”

Người chú bao nhiêu năm trời chỉ ló mặt ra cửa hiệu của gia đình duy nhất một lần ấy đã đứng về phe Araki. Là một thuyền viên trên tàu đánh bắt cá voi, có lẽ những năm tháng dài lênh đênh trên biển đã khiến chú nghiệm ra được tầm quan trọng của từ điển. Đó là điều khiến chú khác biệt so với những họ hàng thân thích còn lại.

“Nhóc Kou chẳng phải là một thằng bé thông minh đấy sao? Anh cứ để nó học lên đại học thử xem nào.”

Araki tham dự kì thi tuyển sinh đại học với quyết tâm không thể lay chuyển, và nỗ lực của bác đã được đền đáp xứng đáng. Trong suốt bốn năm sau đó, đáng tiếc thay bác lại nhận thấy, mình không đủ tài năng để trở thành một học giả, nhưng bác cũng không tài nào kiềm chế được niềm khao khát được làm từ điển. Vào năm thứ tư đại học, một chuyện lớn đã xảy ra: nhà xuất bản Shogakukan lần đầu tiên cho phát hành quyển “Từ điển quốc ngữ Daijiten”.

Đó là một bộ từ điển khổng lồ bao gồm 20 quyển. Công tác biên soạn phải mất hơn chục năm trời, ghi chép ước chừng khoảng 450.000 hạng mục. Nghe bảo con số cộng tác viên lên tới 3.000 vị.

Một sinh viên nghèo như bác thì sao mà với tới nổi. Araki ngắm nhìn bộ “Từ điển quốc ngữ Daijiten” được sắp trên tủ sách thư viện trường đại học mà run rẩy. Nhìn vào bộ từ điển được kết tinh từ nhiệt huyết lẫn thời gian của bao người được đặt trên ngăn tủ đầy bụi trong thư viện tĩnh lặng, thật chẳng khác gì đang ngắm nhìn quầng sáng đẹp đẽ mà xa vời tỏa ra từ vầng trăng giữa bầu trời đêm.

Đành là bản thân không thể có tên trên bìa cuốn từ điển với tư cách là một học giả, nhưng vẫn còn con đường biên soạn từ điển với tư cách là một biên tập viên. Dẫu thế nào đi chăng nữa, mình vẫn rất muốn làm từ điển, Araki nhủ thầm. Từ điển chính là thứ dù cho có trút cạn cả thời gian lẫn nhiệt huyết của bản thân vào thì cũng không có gì để hối tiếc.

Araki nỗ lực đi tìm việc, và cuối cùng cũng được nhận vào làm tại Công ty sách Genbu, vốn thuộc một nhà xuất bản tổng hợp lớn.

“Từ đó đến giờ làm từ điển cũng được 37 năm rồi ấy nhỉ.”

“Ấy chà, chưa gì đã ngần ấy năm rồi sao?”

“Vâng ạ. Từ khi gặp thầy đến giờ đã hơn 30 năm rồi. Hồi đó tóc thầy vẫn còn dày lắm cơ.”

Araki đưa mắt nhìn đỉnh đầu của thầy Matsumoto đang ngồi đối diện. Thầy Matsumoto đặt cây bút chì dùng để ghi chép trên thẻ sưu tập mẫu câu xuống, cười rúc rích như một chú chim sẻ.

“Này, tóc cậu cũng đã điểm kha khá muối tiêu rồi còn gì.”

Mì lạnh Zaru Soba được mang tới. Đang vào giờ nghỉ trưa nên trong tiệm, nhân viên văn phòng ngồi kín cả chỗ. Araki cùng thầy Matsumoto im lặng xì xụp ăn mì. Thầy Matsumoto trong lúc ăn vẫn lắng tai nghe âm thanh phát ra từ chiếc tivi trong tiệm. Đến khi gặp phải từ vựng lạ tai hoặc cách sử dụng mới thầy sẽ lập tức ghi chép lại vào tập thẻ sưu tập mẫu câu. Vậy nên Araki lúc nào cũng chú ý đến bàn tay thầy Matsumoto, phòng hờ việc thầy do quá chú tâm sẽ gắp mì bằng bút chì hoặc dùng đũa để ghi chép.

Sau khi ăn mì xong, hai người uống trà lúa mạch lạnh rồi thở hắt ra.

“Quyển từ điển đầu tiên mà thầy có là quyển nào ạ?”

“Là quyển ‘Gentokai’ của Otsuki Fumihiko tôi thừa hưởng lại từ bố. Việc Otsuki vượt qua nhiều gian khó, một mình biên soạn cả một quyển từ điển đã để lại cho tôi ấn tượng sâu sắc cho đến tận bây giờ.”

“Nhưng mà, thể nào thầy cũng từng thử tra mấy từ bậy bạ trong đó rồi chứ gì.”

“Làm gì có.”

“Thật ạ? Em thì như hồi nãy đã nói đó, quyển từ điển đầu tiên em nhận được là ‘Từ điển quốc ngữ Iwanami’ vào hồi cấp II, nhưng em toàn tra mấy từ bậy bạ trong đó không à.”

“Đó là một quyển từ điển danh giá được biên tập rất kĩ lưỡng cơ mà. Hẳn là cậu đã phải thất vọng lắm nhỉ.”

“Đúng đấy ạ. Dù em có tra từ ‘chinchin’* đi nữa, trong đấy cũng chỉ toàn ghi chép mấy nghĩa như là mẹo dạy chó với lại tiếng kêu của ấm nước sôi thôi. Mà nói vậy thì chắc chắn thầy cũng phải từng tra thử rồi chứ gì?”

Chinchin ちんちん trong tiếng Nhật còn có nghĩa khác để chỉ “cu tí” của con trai.

“Hê hê hê.”

Cũng gần hết giờ nghỉ trưa. Chẳng biết từ lúc nào mà trong tiệm mì khách đã thưa dần, bà chủ đến châm thêm nước trà lúa mạch cho hai người.

“Em đã làm việc cùng thầy lâu như vậy, nhưng mà kỉ niệm liên quan đến từ điển thế này thì lần đầu tiên chúng ta mới kể với nhau nhỉ?”

“Ừ, bao phen đồng cam cộng khổ cùng nhau mà chẳng có lúc nào thong thả chuyện trò. Vừa xong một quyển thì ngay lập tức cũng bở hơi tai chạy đi cải đính với lại cải biên. ‘Từ điển từ hiện đại Genbu’, ‘Từ điển học tiếng Nhật Genbu’, ‘Jigen’, quyển nào cũng có kỉ niệm sâu sắc cả.”

“Không thể ở lại cùng thầy đến lúc cuối cùng, em thành thật xin lỗi.”

Araki đặt hai bàn tay lên bàn, đoạn cúi gằm mặt xuống. Thầy Matsumoto thu lại mấy thẻ sưu tập mẫu câu, chẳng biết có phải vì đang buồn rầu hay không mà lưng thầy lại hơi gù xuống.

“Quả nhiên cậu khó lòng mà kéo dài hạn về hưu nhỉ.”

“Là bất đắc dĩ thôi thầy ạ.”

“Ủy nhiệm cũng được mà.”

“Nếu có thể em cũng định thường xuyên lui tới Phòng từ điển... Nhưng mà sức khỏe của bà xã nhà em lại chẳng mấy khởi sắc. Từ trước đến giờ em chỉ mãi vùi đầu vào từ điển mà chưa làm được chuyện gì khác, vậy nên ít nhất sau khi về hưu em muốn làm việc gì đó liên quan đến mì soba.”

“Vậy sao?”

Thầy Matsumoto hẳn là đang thất vọng tràn trề, nhưng lại cố gượng vui, nói.

“Thôi, không sao đâu mà. Cũng đến phiên cậu Araki chăm sóc cho vợ mình rồi đấy.”

Khiến cho tâm trạng của thầy tụt dốc thế này, bác thật thất bại với tư cách là một biên tập viên. Araki ngẩng mặt lên, nhổm dậy, ra điều như muốn động viên thầy Matsumoto.

“Cho đến lúc em nghỉ hưu, nhất định em sẽ tìm cho bằng được người kế tục mình. Em sẽ tìm cho ra một nhân tài trẻ tuổi, vừa có thể giúp đỡ thầy ở nhiều lĩnh vực, vừa có thể dẫn dắt Phòng biên tập từ điển và có thể thay cho hai chúng ta đề xuất kế hoạch biên tập từ điển mới.”

“Nhưng công tác biên tập từ điển rất khác so với việc làm dòng sách tankobon* hay các tạp chí khác. Đó là một thế giới vô cùng đặc biệt. Vừa phải kiên nhẫn, không được nản chí trước những công việc đòi hỏi tính tỉ mỉ, lại vừa phải say mê các con chữ, nhưng một thanh niên vừa chịu đựng được những điều đó lại vừa có tầm nhìn xa như vậy, liệu có tồn tại trong thời đại bây giờ không?”

Tankobon là một dạng sách bìa cứng, giấy dày và đẹp, khổ thường là 18 cm x 13.3 cm cho sách chữ hoặc 18.2 cm x 12.8 cm cho manga (bằng với kích cỡ manga được xuất bản thông thường ở Việt Nam). Thông thường ở Nhật khi một quyển tiểu thuyết mới được xuất bản thì sẽ được xuất bản dưới định dạng tankobon, sau đó nếu bán chạy sẽ được tái bản dưới dạng bunko - sách bỏ túi.

“Chắc chắn là có mà. Nếu em không tìm được người như vậy trong số hơn 500 nhân viên của công ty ta, thì em sẽ dẫn bằng được họ về từ công ty khác. Thầy à, dẫu thế nào đi chăng nữa thì Công ty sách Genbu vẫn rất cần đến sự dẫn dắt của thầy.”

Thầy Matsumoto gật đầu, đoạn khẽ nói.

“Có thể cùng cậu Araki làm từ điển thật tốt quá. Dù cho cậu có cố gắng tìm kiếm thế nào đi chăng nữa, chắc chắn tôi cũng sẽ không thể nào gặp được một biên tập viên thứ hai giống như cậu đâu.”

Bất chợt Araki muốn khóc nấc lên, bác đành phải cắn chặt môi lại. Hơn 30 năm qua có thể cùng thầy Matsumoto sống cuộc đời vùi đầu vào sách vở cùng với những bản in, thật giống hệt như một giấc mơ đẹp.

“Em thành thật cảm ơn thầy.”

Việc đề xuất kế hoạch cho từ điển mới đã được thông qua một nửa rồi, phải rời khỏi công ty thật là một điều đáng tiếc. Lúc này, từ điển đã trở thành thứ cốt yếu tạo nên con người Araki.

Đồng thời, Araki cũng cảm nhận được trong tim mình ấp ủ một sứ mệnh mới.

Chính là vào khoảnh khắc bác nhìn thấy biểu cảm trong đôi mắt của thầy Matsumoto ánh lên vẻ trìu mến, nỗi buồn và sự bất an tràn ngập đối với con đường tương lai phía trước, bác đã cảm nhận được sứ mệnh ấy.

Trước giờ bác cứ nghĩ nhiệm vụ của mình với tư cách là thành viên của Phòng biên tập từ điển chỉ là hoàn thành các quyển từ điển mới mà mình vẫn hằng mong mỏi, nhưng chỉ bấy nhiêu thôi thì không đủ. Sứ mệnh của bác là phải tìm cho ra một người yêu từ điển giống hệt như mình, à không, một người yêu từ điển còn hơn cả mình.

Vì lợi ích của thầy. Vì lợi ích của những con người đang sử dụng và học tập tiếng Nhật. Và trên hết là vì những quyển sách quý giá được gọi là từ điển kia.

Araki quay trở về công ty, nóng lòng muốn hoàn thành nghĩa vụ lớn lao cuối cùng của mình.

Tuy Araki đã bắt đầu đi dò hỏi ngay các bộ phận biên tập, “Ở đây có người tài không?” nhưng kết quả thu được lại chẳng mấy khả quan.

“Chỗ nào cũng chỉ toàn là những người ưu tiên cái lợi trước mắt.”

Do khủng hoảng kinh tế, nên cơ quan nào cũng phảng phất một bầu không khí căng thẳng. Hẳn là dòng tạp chí có thể đăng quảng cáo hoặc là dòng sách tankobon với nội dung không tốn mấy chi phí để thu thập thì sẽ được ưu ái xuất bản hơn, nhưng mà nhân tài bên đó lại không phải người có thể đưa về Phòng biên tập từ điển được.

“Từ điển không phải là sản phẩm được coi trọng trong tình hình kinh tế hiện nay, nhưng chẳng phải mọi người vẫn thường hay nói, từ điển chính là kho tri thức giúp ta bền gan vững chí, chuẩn bị cho ta hành trang vào tương lai đấy sao?”

“Đành vậy thôi.”

Nishioka xuất hiện từ giữa những tủ sách, lên tiếng đáp lại lời độc thoại của Araki. “Bởi vì làm từ điển đòi hỏi một khoản tiền khổng lồ và tiêu tốn lượng khủng thời gian mà. Thời nào cũng vậy, mọi người ai chẳng thích nhảy vào làm những thứ dễ dàng thu lợi.”

Quả đúng như lời Nishioka nói. Phòng biên tập từ điển của Công ty sách Genbu do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế nên thật tình đang rất khó khăn, ngân sách lẫn nhân lực đều bị cắt giảm. Tình hình là kế hoạch cho quyển từ điển mới mãi mà vẫn chưa được chính thức thông qua.

Araki thường hay lật hai quyển “Kojien”* và “Daijirin”* để trên bàn ra xem. Vừa tra từ điển hai từ “khổng lồ” và “khủng”, ngẫm nghĩ xem cách dùng hai từ ấy khác nhau thế nào, Araki vừa tặc lưỡi.

Kojien 広辞苑 (Phiên âm Hán: Quảng Từ Uyển, tức “khu vườn ngôn từ rộng lớn”) là từ điển quốc ngữ Nhật Bản cỡ trung được phát hành bởi NXB Iwanami. Lần đầu tiên được phát hành vào đầu thời kỳ Chiêu Hòa được đặt tên là “Jien”, nhưng sau Đệ nhị Thế chiến được đổi thành “Kojien”, ghi chép ước chừng 240.000 mục từ.

Daijirin 大辞林 (Phiên âm Hán: Đại Từ Lâm, tức “khu rừng ngôn từ vĩ đại”) là từ điển quốc ngữ Nhật Bản của NXB Sanseido, ghi chép khoảng 230.000 mục từ. Đây là quyển từ điển cạnh tranh trực tiếp với Kojien.

“Nói cứ như thể là chuyện của người ngoài ấy. Chẳng phải do việc gì cậu cũng làm không xong nên mới khiến tôi phải khốn đốn gánh cả đống chuyện dư thừa thế này sao.”

“Vâng vâng, cháu xin lỗi.”

“Cậu thật chẳng thích hợp với từ điển chút nào. Nhưng mấy việc tay chân nhẹ nhàng lúc đi lấy bản thảo lại giỏi lắm.”

“Bác Araki nói vậy mà được sao?”

Nishioka vẫn ngồi nguyên trong cái ghế có gắn bánh xe của văn phòng rồi trượt tới gần Araki đang nhịp chân trên sàn. “Nhờ công việc chân tay nhẹ nhàng của cháu mà chúng ta mới thu được nhiều tin hành lang thế mà.”

“Gì chứ.”

“Nhân tài phù hợp với từ điển, hình như là có đấy ạ.”

“Ở đâu cơ?”

Nishioka bật cười như thể đã phỉnh được Araki đứng bật dậy khỏi ghế. Vì trong phòng đang yên ắng nên y buộc phải nén giọng cười cợt xuống.

“Phòng kinh doanh số Một, 27 tuổi.”

“Vớ vẩn!”

Araki gõ vào đầu Nishioka một cú. “Vậy chẳng phải là vào công ty cùng thời với cậu còn gì? Cho đến giờ có nghe ai nhắc gì tới đâu.”

“Thật quá đáng mà.”

Nishioka xoa xoa đỉnh đầu, đoạn ngồi trên ghế trở lui về bàn của mình. “Có phải cùng thời với cháu đâu. Nghe bảo do người đó phải tốt nghiệp cao học, nên đây mới là năm thứ ba trong công ty thôi.”

“Phòng kinh doanh số Một à?”

“Mà dẫu cho bây giờ bác có phi đến đó đi chăng nữa, chắc gì người ta vẫn còn ở văn phòng kia chứ.”

Ngay khi Nishioka nói thế, Araki đã phóng đi ngay.

Phòng biên tập từ điển nằm ở dãy lầu một, thuộc tòa nhà phụ của Công ty sách Genbu. Đó là một tòa nhà cũ xây bằng gỗ với trần nhà cao, với các tấm ván gỗ lót sàn đều đã ngả sang màu nâu thẫm. Tiếng bước chân của Araki vang dội trong bóng tối mờ mờ của hành lang.

Xuống hết cầu thang, vừa đẩy hai cánh cửa mở ra là ánh nắng đầu hạ như thiêu cháy đôi mắt bác. Phản chiếu vào ánh mắt tràn đầy sắc xanh lục ấy, chính là trụ sở tám tầng cao sừng sững được xây trong cùng một khu đất. Araki chạy một mạch đến cửa ra vào, tận dụng từng khoảng bóng râm từ hàng cây. Bước vào Phòng kinh doanh số Một nằm ở tầng trệt, Araki mới sực nhớ ra. Chết chưa, khi nãy quên béng mất việc hỏi tên ứng cử viên kế thừa quan trọng đó rồi. Là nam hay nữ cũng không biết. Do mang trong mình kì vọng lớn lao nên bác trở nên vô cùng sốt ruột.

Bác đứng ở cửa ra vào mà thở hổn hển, rồi nhìn vào Phòng kinh doanh với vẻ mặt vờ như chẳng mảy may hứng thú. May thay, nhân viên Phòng kinh doanh chẳng ai để ý đến bác. Có sáu bảy người đương dán mắt vào màn hình máy tính hoặc trả lời điện thoại. Cái người 27 tuổi tốt nghiệp cao học, làm việc ở công ty được ba năm là ai ta? Xui xẻo làm sao, trong phòng toàn là mấy người nam nữ trên 30, khiến bác không tài nào soi ra được.

Rốt cuộc Phòng kinh doanh số Một là thế nào đây? Mấy tay trẻ tuổi ở đó chẳng phải thường hay bị sai ra nhà sách chạy việc vặt còn gì? Miễn sao ngoại trừ nhân vật mà mình đang tìm kiếm là được.

Araki mới vừa cằn nhằn thầm trong bụng xong, thì một nữ nhân viên mang vẻ mặt nghi hoặc gần đó tiến lại hỏi, “Bác đang cần tìm ai ạ?”

Hình như cô ấy có ý định cứ thế dẫn Araki đến phía cửa ra vào. Có lẽ do cô ấy nghĩ bác không phải là người trong công ty, không biết bằng cách nào lại vào được bên trong mà không thông qua lễ tân. Suốt 37 năm cứ ru rú mãi trong Phòng biên tập từ điển ở tòa nhà phụ, nên ngay cả những nhân viên lão làng trong công ty cũng không biết mặt bác.

Đăng ký tài khoản miễn phí để mở khoá toàn bộ cuốn sách

Bạn đang đọc bản xem trước của tác phẩm. Nhấn nút dưới đây để chuyển sang giao diện đọc sách chuyên nghiệp với đầy đủ công cụ ghi chú và đổi giao diện.

Đọc Tiếp Bản Đầy Đủ

Đánh giá & Nhận xét

Chưa có đánh giá nào. Hãy là người đầu tiên!