Lâu Đài Cát

Chào mừng bạn! Cuốn sách này hoàn toàn miễn phí. Đọc ngay để khám phá tri thức mới.

Ebook EPUB Quản trị - Kinh doanh

Lâu Đài Cát

Matsumoto Seicho

Giới thiệu tác phẩm

Một sáng tinh sương Tokyo, người ta tìm thấy xác một người đàn ông lớn tuổi nằm vắt ngang trên đường ray xe điện, diện mạo đã bị hủy hoại. Không thể xác định được danh tính nạn nhân, cuộc điều tra đành tập trung vào những lời chứng vụn vặt của mấy cô gái quán bar và hai nhạc công guitar rong tình cờ gặp ông đêm hôm trước. Tất cả co cụm về hai manh mối: nạn nhân nói tiếng địa phương vùng Đông Bắc, và có một danh từ riêng xuất hiện trong câu chuyện của ông với nghi phạm.

Hai manh mối lờ mờ nhỏ bé này đã đẩy cuộc điều tra ra phạm vi rất rộng bao gồm nhiều vùng địa lý, nhiều biến động xã hội và chiều dài thăm thẳm của thời gian. Giữa chừng lại cuốn theo cái chết thứ hai, cái chết thứ ba, cái chết thứ tư ở các hình thức hoàn toàn khác nhau, đi kèm thủ pháp sát nhân vô cùng dị thường. Cuộc điều tra khép lại ở một kết luận đau lòng và xúc động, tất cả càng thêm tang thương vì lý do gây án vốn dĩ không hề tồn tại trên đời…

LÂU ĐÀI CÁT là ẩn dụ về mộng tưởng huy hoàng nhưng mong manh, là kiệt tác của một trong những tên tuổi tiêu biểu nhất của trinh thám Nhật Bản. Truyện đã được TBS dựng phim hai lần, Fuji TV dựng phim ba lần, TV Asahi dựng phim hai lần, đều được hoan nghênh nhiệt liệt nhưng lại không lột tả được thủ pháp sát nhân cực kì đặc sắc ở nguyên bản, khiến LÂU ĐÀI CÁT vẫn sừng sững ở đó nhưng khó nắm bắt, y như nhan đề nó mang.

Chia sẻ

Đọc thử tác phẩm

Xem trước một vài chương đầu tiên trực tiếp từ bản thảo EPUB.

CHƯƠNG ĐỌC THỬ

1 KHÁCH QUÁN BAR

Trong một con ngõ gần ga tàu Kamata*, có rất nhiều cửa hàng, quán ăn, quán rượu mở san sát nhau.

Sau 11 giờ đêm, các quán xá này hầu như đều đã đóng cửa. Ngoài ngọn đèn đường hình hoa linh lan vẫn cần mẫn tỏa sáng đùng đục, thì trong ngõ chỉ còn ánh đèn lờ mờ hắt ra từ cửa sổ của một quán bar nhỏ mà thôi. Quán có mặt tiền khá hẹp, bên trong bài trí sơ sài, thiếu thẩm mĩ, cứ như một quán bar miền ngoại ô. Vừa bước vào cửa là thấy chình ình một quầy rượu dài thượt, đằng góc quán kê hai bộ sofa quây. Lúc này, sofa bỏ trống, bốn người khách đang ngồi cả ở quầy, ba nam một nữ, đều có dáng vẻ nhân viên văn phòng và hình như làm chung một công ty. Xem chừng cả bốn đều là khách quen, họ nói chuyện say sưa, không hề giữ ý trước mặt các cô hầu bàn và pha chế. Máy quay đĩa đều đều phát những bài nhạc jazz thịnh hành. Mấy cô gái thi thoảng gõ nhịp hoặc ngâm nga theo giai điệu. Khách đã ngà ngà say. Qua câu chuyện thì nghe ra họ đã uống ở đâu đó khác, trên đường về ghé xuống ga Kamata rồi tạt vào đây.

“Tổ trưởng của các cậu,” một người đàn ông ghé lại gần một người khác, “giờ làm thân tôi mọi cho trưởng phòng rồi. Cứ khúm na khúm núm, trông đáng khinh ghê gớm. Phải loại bỏ hắn thôi.”

“Chỉ tại xung quanh toàn kẻ chẳng nên thân, là tổ phó xúi giục hắn đấy. Tình hình này thì loại bỏ hắn cũng chẳng để làm gì.” Người kia nâng rượu nhấp một chút.

“Trơ trẽn quá, ai cũng cười chê!”

“Hắn thừa biết người ta cười chê mình từ lâu rồi. Chỉ tội, đã muốn leo cao thì bận tâm nhìn ngó gì nữa. Đâm lao phải theo lao, bây giờ một lòng một dạ bợ đỡ cấp trên, ném lương tâm cho chó ăn mới mong cất cánh. Dĩ nhiên chúng ta còn chưa biết trong lòng hắn rốt cuộc đang nung nấu điều gì. Mi này, cô thấy sao?”

Anh ta ngoảnh đầu nhìn người phụ nữ bên cạnh. Cô nàng nhân viên văn phòng chừng hai lăm hai sáu tuổi ấy khẽ nhún vai, “Đúng mà, ba năm tới giám đốc về hưu, trưởng phòng chắc chắn đã tính sẵn đường đi nước bước. Bảo sao đám cấp dưới của ông ta không thòm thèm, kẻ nào cũng ngắm nghía cái ghế trưởng phòng sắp bỏ trống.”

“Đục nước béo cò! Nịnh bợ cơ hội. Dĩ nhiên, đó là những việc chẳng hề liên quan đến chúng ta. Như anh em mình đây, cứ tối tối khề khà là đủ khoái chí rồi. Kể cũng đáng thương... Nhưng mà được cái, ngày ngày bọn anh đến thì các cô lại phát tài, nhỉ!” Người khách nói, đưa mắt nhìn cô pha chế trong quầy.

Cô pha chế trẻ tuổi tươi cười, cúi thấp mình lễ phép đáp, “Cảm ơn quý khách!”

“À Mi ơi, tạm ứng tháng này của tôi vẫn chưa vượt hạn mức chứ?” “Hê, vượt từ đời nào, báo động đỏ rồi đấy!”

“Trời má, thế thì tháng này lại hoàn ứng dày cộp mất. Ngày lĩnh lương đồng thời là ngày xin tạm ứng tháng tới. Tháng trước chỉ còn đúng một tờ 1000 yên để kẹp vào giấy tạm ứng. Cô Mi, tháng này mong cô tiếp tục giúp đỡ.”

“Lắm chuyện! Đến đây xả hơi thì bơn bớt mấy chủ đề không vui đi.”

Đúng lúc này, cửa quán mở ra, có hai người đàn ông đi vào. Vì ánh đèn lờ mờ ảm đạm, khói thuốc vờn quanh, chẳng ai nhìn rõ khuôn mặt những người mới tới.

“Kính chào quý khách!” Pha chế trong quầy trông thấy trước tiên, bèn cất cao tiếng chào, đồng thời nhận ra không phải khách quen.

“Mời vào.” Các cô hầu bàn nghe tiếng cũng ngoảnh đầu ra, cất tiếng chào theo.

Khách cũ vô thức liếc mắt nhìn, thấy không quen, lại quay vào tiếp tục trò chuyện.

Một trong hai người khách mới đến mặc bộ vest màu xanh lam đã sờn cũ, người còn lại mặc áo thun cộc tay màu xám nhạt. Có lẽ là do ở quầy đã có mấy người ngồi tán gẫu, nên họ tiến thẳng vào sofa quây trong góc cho yên tĩnh. Cô hầu bàn Sumiko vội vàng đứng dậy đi theo đế phục vụ. Người mặc vest chừng năm mươi tuổi, tóc hoa râm. Người mặc áo thun ngoài ba mươi tuổi. Dĩ nhiên đây chỉ là những ấn tượng ban đầu.

Sumiko lấy ở quầy rượu hai chiếc khăn ướt, cầm tới đặt trước mặt khách, “Các vị dùng gì ạ?”

Người trẻ tuổi đưa mắt nhìn người lớn tuổi hơn ra ý hỏi.

“Cho highball*!” Người tóc hoa râm nói.

Âm điệu của câu “Cho highball!” này không phải giọng Tokyo. Về sau, Sumiko đã hồi tưởng và khai báo với cảnh sát như vậy. Cô có cảm giác khách là người tỉnh ngoài, cụ thể là người ở vùng Tohoku*. Sumiko về quầy để đặt highball. Cuộc nói chuyện của những người khách quen hiện đã chuyển sang chủ đề phim ảnh, lại nhắc tới một diễn viên chính mà Sumiko yêu thích, nên cô bất giác bị hút vào câu chuyện của họ. Thỉnh thoảng cô còn hào hứng tham gia một hai câu. Đến một lúc, pha chế đặt mạnh hai cốc thủy tinh lên quầy, nhắc nhở “Này, được rồi!”, Sumiko mới vô thức thè lưỡi, chuyển cốc sang khay màu bạc và mang đi. Đến gần sofa quây, cô đặt lần lượt từng cốc xuống trước mặt khách, “Để hai anh chờ lâu!” Hai người khách vốn đã ngừng thì thào khi Sumiko bước đến gần, bấy giờ thấy cô định ngồi xuống chiếc ghế gần đó để đợi phục vụ, người đàn ông ngoài ba mươi tuổi vội xua tay lia lịa.

“Xin lỗi...” Giọng hắn hơi gay gắt. “Cô cứ đi đi! Chúng tôi có việc cần bàn riêng.”

Sumiko cúi mình trước người đàn ông tóc rối bù bám đầy bụi đất và cổ áo thun thì nhăn nheo ấy, “Vâng, mời các anh tự nhiên!” Rồi quay trở lại quầy, lẩm bẩm. “Đằng kia hình như đang mưu đồ chuyện gì bí mật.”

“Vậy ư?” Cô pha chế liếc mắt về phía sofa quây, hờ hững trước mấy người khách vãng lai trông không có gì thú vị, trong khi câu chuyện điện ảnh với các khách quen lại đang rôm rả.

“Diễn xuất của anh ta, bắt đầu từ hai ba năm nay đã...”

Được một lát, chủ đề ở quầy lại từ điện ảnh nhảy sang bóng chày, đúng lĩnh vực yêu thích của cô pha chế, cô càng hăng hái phụ họa thêm.

Tóm lại, không ai chú ý đến hai người khách mới. Các cô hầu bàn chẳng có thiện cảm gì với mấy kẻ vừa thì thào như buôn bạc giả vừa cấm cản họ lại gần, tán gẫu với khách quen thân thiện thích hơn nhiều so với chạy đến thõng tay đứng đợi phục dịch thể loại lạnh lùng như thế.

Hai người khách đằng sofa quây trò chuyện với nhau rất thân mật. Trong khi đó, bị xua đuổi vẫn không quên nhiệm vụ, cô hầu bàn Sumiko thi thoảng đánh mắt về phía họ để sẵn sàng tiếp thêm đồ uống. Nhưng nhìn bao nhiêu lần, cốc cũng còn nguyên một nửa. Đúng là khách khứa vô duyên.

Cạnh sofa quây là lối ra vào nhà vệ sinh. Bởi thế hầu bàn và khách đằng quầy cứ lát lát lại đi qua chỗ sofa. Vào một lần bước ngang qua, Sumiko vô tình nghe được hai người khách trong góc trò chuyện bằng giọng Tohoku, âm rin rít và âm mũi rất nhiều, đặc biệt là người lớn tuổi hơn. Không rõ nội dung trao đổi là gì, Sumiko chỉ ngẫu nhiên bắt được một câu của người trẻ tuổi, “Kameda giờ vẫn thế à?”

“Hừm, chưa thay đổi chút nào hết... Gặp cậu, vui mừng lắm... Mọi người biết rồi, không rõ là liệu...” Giọng người lớn tuổi chỉ nghe được đứt đoạn.

Sumiko thầm nghĩ, chắc hai người là bạn bè xa cách nhiều năm mới gặp lại, Kameda có lẽ là người quen chung của họ. Về sau cô có nêu phán đoán này với cảnh sát, nêu cả ấn tượng rằng người lớn tuổi nói giọng Tohoku. Khách hàng đằng quầy cũng đưa ra nhận định tương tự, do mỗi lần đi qua để vào nhà vệ sinh đều nghe lõm bõm tiếng thì thào thân mật. Dĩ nhiên không ai có hứng thú sâu hơn, người ta còn bận phấn khích với các đề tài tán gẫu sẵn có của mình, tức là không một ai từ nhân viên quán đến khách hàng tỏ ra lưu tâm đặc biệt tới hai người khách ở bộ sofa quây đằng góc.

***

“Ồ, gần 12 giờ rồi!” Một người khách ở quầy chợt nhìn đồng hồ, lẩm bẩm. “Nhấc cái mông lên nào, chỉ còn chuyến cuối thôi!”

“Ôi dà, gay go to!” Cô đồng nghiệp của anh ta phàn nàn, giọng nghe chừng mệt mỏi, “Bắt chuyến cuối thì phiền lắm, nhà cách ga mười mấy phút đi bộ nữa.”

“Bận cái gì, chơi thêm một lát! Muộn thì tôi đưa cô về nhà.”

“Gớm ai dám nhờ anh đưa.” Cô gái cười, giọng chuếnh choáng. “Anh tôi sẽ ra ga đón tôi.”

“Khửa khửa, ai biết được có phải anh cô không?”

“Xin lỗi, đằng nào thì cũng không phải người như anh.”

“Ha ha, phũ chưa! Thôi, đừng trêu chọc Mi, cuối tháng cậu còn phải nhờ cậy người ta đấy.”

“Được rồi, đừng tầm phào nữa!”

Họ đang đùa giỡn thì...

“Này, thanh toán hộ cái!” Hai người đằng sofa quây đứng dậy.

Họ rời quán bar rồi đi đâu?

***

Thật ra, không phải là không có nhân chứng.

Có hai nhạc công guitar đi lướt qua họ, ở điểm cách quán bar tầm năm sáu mét. Hai nhạc công này chơi guitar cho các nhà hàng và quán xá quanh đây. Sở dĩ họ chú ý đến hành tung của hai người khách là vì định tạt vào kiếm chác chút đỉnh ở quán bar rẻ tiền nói trên, nhưng thấy khách đi hết rồi, không khỏi tặc lưỡi.

“Chà, khách hàng dạng này cũng chẳng thuê chơi đàn hát gì đâu.” Nhạc công anh bình phẩm. “Trông bộ cánh là biết vét đĩa.” Bộ cánh, là từ lóng chỉ quần áo. Thân đi đàn hát mua vui, trước hết phải để ý xem khách ăn mặc ra sao.

“Thế hả?” Nhạc công em vì đi qua họ ở chỗ tối nên không để ý, giờ nghe anh nói mới bất giác ngoái đầu nhìn theo, thấy khách đã đi xa tít rồi.

Con ngõ này chạy thêm mười mét thì sẽ tách làm hai nhánh trái phải. Rẽ phải là ra đường cái, gặp khu phố mua sắm sôi động. Rẽ trái là khu đất có rào giậu thuộc khuôn viên ga Kamata, hướng này quạnh hiu kinh khủng, chẳng ai lai vãng. Tuy có hàng rào kẽm gai nhưng đất bỏ hoang cho cỏ mọc, chòi canh để không chẳng ai trực, đêm xuống không phụ nữ nào đi một mình dám băng qua. Đèn đóm thưa thớt, chẳng biết có thể xuất hiện những gì. Đi sâu vào trong sẽ đến bãi điều hành tàu điện. Thế mà hướng hai người khách đi, lại chính là rẽ trái. Vì cách quá xa nên nhạc công em khó lòng xác định được bộ cánh của khách ra sao, nhưng cái kiểu đi đường ngang ngõ tắt kia cho thấy chẳng phải dạng đàng hoàng gì.

“Trông họ có thân thiết không? Hay đang đấu khẩu?” Sau khi vụ án xảy ra, các điều tra viên thuộc ban chuyên án đã hỏi hai anh em nhạc công.

“Trông không giống đấu khẩu, chỉ trò chuyện bình thường thôi. Tôi không rõ nội dung, nhưng tôi nghĩ là họ khá thân mật.”

“Giọng hai người đó có đặc điểm gì không?”

“Có, hình như là giọng Tohoku.”

“Giọng Tohoku là của ai? Người già hay người trẻ?” Điều tra viên hỏi.

“Bấy giờ trời tối quá, tôi không trông rõ mặt, nhưng có cảm giác là người bên trái, người thấp hơn ấy.”

Người thấp hơn là người tóc hoa râm.

Đó là đêm 11 tháng Năm.

***

Sáng tinh mơ 12 tháng Năm.

Chuyến tàu đầu tiên của tuyến Keihin-Tohoku khởi hành lúc 4 giờ 8 phút sáng từ ga Kamata. Để tàu xuất bến đúng giờ thì theo lệ thường là ngay sau 3 giờ, lái tàu, soát vé và gác phanh đã phải rời phòng trực đi ra bãi điều hành, nơi tàu đậu. Những đoàn tàu nằm song song trên bãi điều hành rộng thênh thang. Không khí lạnh băng, vòm trời còn đen kịt.

Người gác phanh trẻ tuổi cầm đèn pin đi dọc đoàn tàu sắp hoạt động. Đến toa thứ bảy, toa cuối cùng thì cậu phát hoảng, hơi thở tắc nghẽn, chân như cắm rễ tại chỗ, tiếp theo cậu khua tay loạn xạ, lảo đảo chạy ngược về phía đầu tàu. Lúc này, lái tàu đã đứng vào sau vô lăng và nắm cần khởi động.

“Hỏng rồi hỏng rồi, có cá ngừ*!” Người gác phanh la lên thất thanh.

“Cá ngừ?” Lái tàu thoạt tiên ngẩn người, nhưng chỉ tích tắc lại phá lên cười, “Hầy, tàu còn chưa chuyển bánh lấy đâu ra cá ngừ, chưa tỉnh ngủ à? Bình tĩnh lại đi!”

“Không, đúng đấy! Cá ngừ nằm ngay đằng kia!”

Thấy người gác phanh mặt mày trắng bệch, lái tàu và cả soát vé lúc này vừa ra đến bãi bèn kéo nhau tới hiện trường nhìn xem.

“Ở kia kìa!” Đến toa thứ bảy, người gác phanh đứng tít phía ngoài rọi đèn pin vào gầm toa. Dưới ánh sáng đèn, quả thật có một cái xác bê bết máu đang nằm vắt trên đường ray, dính sát vào bánh tàu. Lái tàu ngồi xổm xuống nhìn, tức thì khiếp đảm.

“Ôi cha mẹ ơi, khổ rồi!” Soát vé cũng kêu lên.

Ba người bất động, chằm chằm nhìn cái xác.

“Mau báo cảnh sát... nhưng lại không kịp giờ xuất phát nhỉ!” Soát vé vẫn bình tĩnh hơn cả, vừa cất tiếng vừa thầm tính toán, chỉ còn hai mươi phút nữa là đến 4 giờ 8 phút, giờ khởi hành chuyến đầu tiên.

“Được, tôi đi báo cảnh sát.” Lái tàu chạy một mạch về phía phòng trực đằng xa.

“Mới sáng ngày ra đã gặp chuyện xúi quẩy!” Người gác phanh hoàn hồn lẩm bẩm. “Mà quái, tàu còn chưa lăn bánh, làm sao lại nghiến người ta đến mức máu me be bét thế này?”

Trên bãi điều hành, tàu đi chuyến đầu đậu sát hàng rào tiếp giáp với đường cái, tàu tiếp theo đậu lui vào trong, cách nó chừng một mét. Xác chết nằm xoay đầu ra phía hàng rào. Đèn ở bãi điều hành rất cao, thi thể lại nằm dưới gầm tàu, khuất ánh đèn nên rất tối. Yếu tố này cũng được đưa vào để suy luận lý do gây án về sau.

Soát vé và gác phanh giậm chân tại chỗ trong lúc đợi người ở phòng trực. Họ giậm chân không phải vì lạnh.

Màn đêm rút dần, nền trời bắt đầu chuyển màu bàng bạc như bụng cá. Phía phòng trực chợt nhấp nháy ánh đèn, trực ban cầm đèn pin hộc tốc chạy ra, theo sau là phó ga, tới nơi, ông trợn tròn mắt nhìn xuống gầm. Tàu chạy thì đúng là có khả năng cán chết người, nhưng chưa bao giờ thấy tàu đỗ yên ở bãi điều hành mà lại có thi thể nằm bên dưới cả. Cân nhắc một lúc, ông quyết định, “Mau liên lạc với Sở Cảnh sát Tokyo. Những người không nhiệm vụ cấm lại gần hiện trường. Đổi tàu 208 xuất bến đầu tiên.”

Những người khác cũng ngồi xổm xuống, lúi húi cúi nhìn gầm tàu và bàn tán, “Ôi chao, đúng là khổ quá!” Khuôn mặt xác chết đầm đìa máu, khiến người ta không khỏi liên tưởng đến quỷ mặt đỏ*. Nếu không phát hiện ra sớm thì tàu lăn bánh nhất định sẽ nghiền nát cái đầu, nghiến đứt đôi chân. Vì đầu thi thể gối lên một ray, hai đùi vắt lên ray kia.

Khi cảnh sát tới nơi thì đã hừng đông, nắng mai ngợp trời, đèn trên bãi điều hành đều tắt cả. Lực lượng cảnh sát có Kurozaki, đội trưởng Đội 1 Phòng 1* Sở Cảnh sát Tokyo, và bảy tám người nữa gồm điều tra viên và giám định viên. Ngoài ra còn năm, sáu nhà báo thường trú tại sở, nhưng họ không đến gần cái xác mà chỉ được phép đứng đằng xa nhìn lại.

Tàu điện ngắt bỏ toa thứ bảy, kéo sáu toa còn lại rời khỏi bãi điều hành. Toa tàu gặp sự cố đành đậu trơ trọi một mình ở đó.

Các giám định viên bận rộn bắt tay vào việc, nào là chụp ảnh, vẽ viền xác chết, mượn cả bản đồ bãi điều hành ở văn phòng ga rồi đánh dấu các đường đỏ lên trên. Ghi chép lại tình hình xung quanh xong, họ kéo xác chết ra khỏi gầm toa. Phần mặt bầy nhầy máu thịt, như thể bị nện mạnh bằng một vật có đầu tù. Nhãn cầu lồi ra. Sống mũi gãy lõm vào. Môi rách. Mái đầu hoa râm bê bết máu. Giám định viên tiến hành khám nghiệm tử thi, “Chết chưa được bao lâu!” Họ vừa tác nghiệp vừa trao đổi. “Đúng rồi, mới chết chừng ba, bốn tiếng đồng hồ.”

Kết quả pháp y đã chứng thực cho phán đoán của các giám định viên về thời gian tử vong. Chiều cùng ngày, tử thi được giải phẫu tại khoa Pháp y Đại học R. Kết quả như sau.

Tuổi chừng 54-55. Hơi gầy.

Chết đã được ba, bốn tiếng đồng hồ. Nguyên nhân là bị siết cổ. Trên mặt có nhiều vết bầm, chân tay chi chít sây sát, da trợt, nhiều vệt rách dài sưng đỏ. Trong dạ dày có dịch đục màu vàng cam (chứa cồn) và lạc chưa tiêu hóa hết. Dịch đục chừng 200 cc, xét nghiệm cho thấy chứa thành phần thuốc ngủ.

Từ đó suy ra, người bị hại đã uống whisky bỏ thuốc ngủ rồi bị siết cổ chết, cuối cùng bị một vật tù (đá, búa...) nện mạnh vào mặt.

Kết quả thực địa cũng chứng thực cho phán đoán của pháp y về hung khí. Sau khi tìm kiếm, các điều tra viên tìm thấy hòn đá gây án trong một rãnh nước ngăn giữa bãi điều hành và đường cái. Bề mặt đá dính bùn đất, gột bùn đất đi thì thấy vệt máu loang. Qua xét nghiệm, vết máu cùng nhóm máu với người bị hại. Hòn đá có đường kính chừng 12 phân. Nguyên nhân những chỗ sây sát trên chân tay người bị hại cũng mau chóng được tra rõ. Hàng rào gỗ ngăn giữa bãi điều hành và đường cái chăng đầy kẽm gai, có một đoạn bị gãy, xem ra là do đám trẻ con nghịch ngợm đã đạp xuống để tiện ra vào bãi chơi đùa. Trên thanh gỗ gãy vẫn còn mắc dây thép gai. Nạn nhân bị người ta kéo qua đây để mang vào bãi điều hành, dây thép gai cào nát chân tay, tạo nên xây xước.

Theo kết quả giải phẫu, sau khi uống whisky pha thuốc ngủ, nạn nhân mê man, mất sức kháng cự. Hung thủ bèn siết cổ ông ta, kéo từ đường cái vào bãi điều hành, tiếp đó bê hòn đá đập nát mặt, cuối cùng kéo thi thể vào gầm một toa tàu.

Nạn nhân tóc đã hoa râm, tuổi chừng năm tư năm lăm, cao 1m6o, nặng khoảng 52 kilogam, dinh dưỡng đầy đủ. Bộ vest, sơ mi và đồ lót đều rẻ tiền, cho thấy có khả năng đây là dân lao động chân tay. Cảnh sát kiểm tra vật dụng tùy thân thì không tìm được thứ gì khả dĩ chứng minh lai lịch ông ta. Bộ vest không ghi tên tuổi, sơ mi không gắn nhãn mác của hiệu giặt là. Từ thời điểm phát hiện xác chết suy ngược lại, tính ra thời điểm gây án là khoảng 0 đến 1 giờ đêm. Bấy giờ vắng vẻ, một là hung thủ dẫn nạn nhân đến bãi điều hành, siết cổ ông ta đến chết ở đây; hai là siết cổ ông ta ở chỗ khác rồi dùng xe hơi chở đến bãi điều hành, đó là bởi nạn nhân đã uống cả whisky lẫn thuốc ngủ, nói cách khác, nạn nhân đã bị hung thủ chuốc thuốc cho ngủ lịm đi rồi siết cổ chết, chở xác đi bằng xe hơi. Khả năng này đã từng được ủng hộ cao độ ở ban chuyên án. Và dù là khả năng nào đi nữa thì sau khi siết cổ nạn nhân, hung thủ cũng đã dùng đá đập nát mặt ông ta ở hiện trường. Các điều tra viên gần như nhất trí rằng lý do là thù hận. Bởi vì siết cổ coi như đạt được mục đích sát hại rồi, phá hoại cái xác chỉ có thể nói là tại quá đỗi căm thù. Ngoài ra, hung thủ còn đặt nạn nhân nằm ngửa trên đường ray, khi tàu điện chuyển bánh thì mặt ông ta ắt bị nghiền nát nhừ, diện mạo bị hủy hoại hoàn toàn. Có thể thấy hung thủ muốn chặn đứng khả năng nhận diện nạn nhân. Nhưng hắn không ngờ được rằng người gác phanh lại có thói quen đi kiểm tra toàn bộ một lượt trước khi tàu xuất bến.

Đèn trong bãi điều hành chiếu sáng suốt đêm, hung thủ cố ý đặt nạn nhân ở nơi khuất bóng, rõ ràng là để người qua lại không phát hiện ra. Trên bộ vest của nạn nhân không thêu danh tính, chứng tỏ là đồ mua sẵn giá rẻ, sơ mi không có nhãn mác của hiệu giặt là, chứng tỏ quần áo tự giặt. Đủ thấy người chết không dư dả gì về kinh tế. Từ đó, ban chuyên án suy ra rằng, đây không phải vụ giết người cướp của, mà là giết người vì ân oán cá nhân. Còn ân oán đó bắt nguồn từ ghen tuông hay cạnh tranh thì phải điều tra kĩ hơn mới biết được. Việc cần kíp bây giờ là xác minh lai lịch người bị hại. Các điều tra viên tỏa ra tìm kiếm từ tâm điểm là ga Kamata. Một điều tra viên nghe ngóng được rằng, đêm hôm đó nạn nhân và một người nữa đã ghé vào quán bar rẻ tiền gần ga. Theo cô hầu bàn ở đây, nạn nhân và người đi cùng đều là khách tới lần đầu. Ban chuyên án bèn cho mời toàn bộ nhân viên quán và nhân viên công ty nào đó bấy giờ cũng ngồi nhâm nhi ở bar về văn phòng để hỏi cho cặn kẽ. Như họ phản ánh, nạn nhân và người đi cùng vào quán lúc đã khá muộn, tầm 11 giờ rưỡi đêm. Họ nhớ rõ như vậy là bởi cô nhân viên văn phòng còn nhắc nhỏm lo ngại mãi là chỉ ba mươi phút nữa, chuyến cuối của tuyến Mekama sẽ khởi hành, về mặt mũi hai người khách thì tiếc thay, không ai để ý kĩ càng. Chỉ nói một người tóc đã hoa râm, còn người kia ngoài ba mươi tuổi. Đáng chú ý là, tuổi của người trẻ xê dịch theo lời từng nhân chứng, kẻ bảo ba mươi, kẻ bảo bốn mươi, kẻ nói là trông trẻ hơn nhiều.

Qua lời kể của nhân viên quán, của các khách quen có mặt đêm đó và của cả hai nhạc công guitar rong đi qua bên ngoài, ban chuyên án còn biết được rằng người bị hại nói giọng Tohoku. Điều này có khả năng cung cấp thêm manh mối để đẩy nhanh công đoạn xác minh lai lịch nạn nhân.

“Giọng Tohoku ư? Cụ thể là thế nào?” Cảnh sát hỏi.

“Người lớn tuổi phát âm rin rít rất mạnh khi nói chuyện, nói gì thì tôi không nghe rõ, chỉ biết giọng ông ta như thế thôi. Người trẻ hơn hình như nói giọng chuẩn.”

Không nghe rõ nạn nhân nói gì, là tình hình chung của các nhân chứng. Tuy nhiên đêm đó thi thoảng họ có đi vệ sinh. Cửa nhà vệ sinh nằm gần chỗ sofa quây cho nên mỗi lần vào ra, họ đều đi qua và tình cờ nghe lõm bõm giọng hai người nọ. Trong một lần như thế, cô hầu bàn Sumiko đã nghe người đi cùng hỏi nạn nhân bằng giọng Tohoku, rằng “Kameda giờ vẫn thế à?”. Không chỉ Sumiko, một cô hầu bàn khác xác nhận cũng nghe thấy câu tương tự. Có nghĩa là, từ “Kameda” được nhắc đến không chỉ một lần trong câu chuyện của họ. “Kameda” nghĩa là gì chứ? Từ này khiến cảnh sát đặc biệt chú ý. Vì nó là danh từ cụ thể duy nhất xuất hiện trong cuộc trò chuyện của hai người kia.

“Kameda” có lẽ là tên một người bạn chung của họ, một điều tra viên suy luận, và các đồng nghiệp đều tán thành. Nói cách khác, nạn nhân và hung thủ vốn dĩ quen biết nhưng xa cách đã lâu. Lần này gặp lại, họ bèn vào một quán bar trò chuyện, tiện thể nhắc đến người bạn tên Kameda. Theo cách hỏi đáp thì gần đây nạn nhân tóc hoa râm có gặp gỡ hoặc liên lạc đôi chút với Kameda, còn người trẻ tuổi thì đã rất lâu rồi không gặp nên mới hỏi thăm tình hình hiện tại. Đây đúng là một manh mối quan trọng. Người đi cùng nạn nhân vào quán bar dù không phải hung thủ, thì cũng liên quan mật thiết với án mạng này.

Đăng ký tài khoản miễn phí để mở khoá toàn bộ cuốn sách

Bạn đang đọc bản xem trước của tác phẩm. Nhấn nút dưới đây để chuyển sang giao diện đọc sách chuyên nghiệp với đầy đủ công cụ ghi chú và đổi giao diện.

Đọc Tiếp Bản Đầy Đủ

Đánh giá & Nhận xét

Chưa có đánh giá nào. Hãy là người đầu tiên!