Pháp Ấn: Chữ Pháp ở đây có nghĩa là giáo pháp của Phật. Chữ Ấn có nghĩa là khuôn dấu, tức là phương tiện chứng minh cho tính cách chân xác và chính thống của đạo Phật.
Xá Vệ: Srāvasti, một vương quốc nhỏ các Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu) chừng năm trăm dặm về phía Ðông Bắc. Bây giờ là thành Rapetmapet ở phía Nam sông Rapti. Ngày xưa Phật và giáo đoàn ưa lưu trú tại đây, vì ở đây có vườn Kỳ Thọ (Jetavana).
Khất sĩ dịch từ chữ bhiksu, những vị xuất gia thời Phật còn tại thế, mỗi ngày đi khất thực một lần để nuôi thân và để có dịp gặp gỡ và giảng dạy đạo lý cho người cư sĩ. Dịch âm là tỳ khưu hay bí-sô. Kinh Pháp ấn dùng danh từ bí-sô.
Thế Tôn: Một trong mười danh hiệu thường được dùng để gọi Phật. Thế Tôn (Bhagavān) có nghĩa là bậc tôn quý ở đời.
Không: Phạn ngữ là sūnyatā, có nghĩa là trống rỗng. Không ở đây có nghĩa là không có tự thể riêng biệt, không thể nhận thức bằng các phạm trù tri giác và tư tưởng, chứ không có nghĩa là hư vô, không có nghĩa là không đối với có.
Nắm bắt: dịch chữ upādāna, danh từ hán việt là thủ hay trước, có nghĩa là bị kẹt vào, mắc vào, không buông thả được.
Cái thấy bình đẳng: dịch chữ bình đẳng kiến, cái thấy không chia cắt thực tại thành từng mảnh nhỏ riêng biệt và rời rạc, cái thấy trong đó các ý niệm về ta và người, sinh và diệt, một và nhiều v.v.. . đã được phá bỏ. Cái thấy này là một thứ trí tuệ giác ngộ, gọi là bình-đẳng-tánh-trí (samatājnāna).
Ba cánh cửa đi vào giải thoát: Tam giải thoát môn, Phạn ngữ gọi là trivimoksha-dvara, tức là Không (sūnyatā), Vô tướng (animitta) và Vô tác (apranihita).
Quán chiếu trong lòng thực tại: dịch từ bốn chữ “như thật quán sát”. Như thật ở đây có nghĩa là đi thẳng vào thực tại chứ không đứng bên ngoài thực tại mà quán sát thực tại như một đối tượng khách quan. Ðây là điểm khác biệt giữa Phật học và Khoa học xưa nay.
Uẩn: Có khi gọi là ấm, dịch từ chữ skandha của Phạn ngữ, có nghĩa là nhóm họp và ngăn che. Năm uẩn kết hợp thành sinh mệnh và cũng có tác dụng ngăn che cái thấy về thực tại. Năm uẩn là sắc (vật chất, rūpa), thọ (cảm giác, vedanā), tưởng (tri giác, sanjnā), hành (tâm tư. samskāra) và thức (nhận thức, vijnāna).
Cái thấy (sai lầm): dịch từ Phạn ngữ drsti, từ hán việt là kiến, thường hay dùng trong nghĩa tà kiến, tức là nhận thức sai lầm. Có nhiều nhóm kiến như nhị-kiến, tứ-kiến, ngũ-kiến, v.v...
Nhân duyên: Nhân (hetu) là nguyên nhân chính, như hạt lúa, duyên (pratyaya) là những điều kiện trợ lực cho nhân như đất, nước và ánh sáng làm cho hạt lúa mọc thành cây lúa.
Triệt để dịch từ chữ cứu cánh, có nghĩa là tận gốc, hoàn toàn.
Tịch diệt: dịch từ chữ niết bàn, có nghĩa là thoát ly được các phạm trù có-không, sinh-tử, này-kia, một-nhiều, trước-sau, thường-đoạn, v.v… Tịch diệt không có nghĩa là hư vô, bởi vì tịch diệt siêu việt cả có và không.
Sắc thanh, hương, vị, xúc và pháp: đây là sáu loại đối tượng của tri giác, gọi là lục trần, đối với sáu loại giác quan gọi là lục căn. Pháp là đối tượng của ý căn, làm phát sinh ý thức.