Kinh Kim Cương - Gươm Báu Cắt Đứt Phiền Não

Chào mừng bạn! Cuốn sách này hoàn toàn miễn phí. Đọc ngay để khám phá tri thức mới.

Ebook EPUB Tâm linh

Kinh Kim Cương - Gươm Báu Cắt Đứt Phiền Não

Thích Nhất Hạnh

Giới thiệu tác phẩm

Tác phẩm của Thiền sư Thích Nhất Hạnh về thực hành chánh niệm, nuôi dưỡng lòng từ bi và tìm kiếm sự an lạc trong tâm hồn qua giáo lý Phật giáo hiện đại.

Chia sẻ

Đọc thử tác phẩm

Xem trước một vài chương đầu tiên trực tiếp từ bản thảo EPUB.

CHƯƠNG ĐỌC THỬ

Chú giải

Xin đại chúng lấy lòng thanh tịnh mà nghe kinh Kim Cương. Tôi có xin đại chúng chớ vội đọc những chú giải và bị ảnh hưởng bởi chú giải. Chúng ta nên đi trực tiếp vào văn của kinh và nhờ vậy đôi khi có thể khám phá được những điều mà những nhà chú giải chưa khám phá được. Chúng ta có thể giảng kinh này trong vòng ba tháng, nhưng cũng có thể giảng trong một ngày hay trong một buổi và trong khi đọc kinh, chúng ta nên có tinh thần như là chúng ta đang tụng kinh. “Kim Cang kinh tụng chân thành từng trang”. Chúng ta phải đem nhận thức thanh tịnh của chúng ta mà tiếp xúc với lời kinh; Chúng ta phải đem những đau khổ và những kinh nghiệm của chúng ta ra để hiểu kinh và thường xuyên chúng ta phải đặt ngay câu hỏi là những điều Bụt nói đây có dính líu gì đến đời sống hàng ngày của mình hay không? Những ý niệm trừu tượng trên mây tuy đẹp đẽ vô cùng, tuy được nhắc đi nhắc lại nhiều lần nhưng có thể chẳng dính líu gì tới sự sống của mình cả. Vì vậy phương pháp học của chúng ta là luôn luôn đặt câu hỏi: Những điều nói trong kinh có dính líu gì đến tôi không, đến sự sống hằng ngày của tôi không? Những điều ấy có dính líu gì đến chuyện ăn cơm, uống trà, bổ củi, gánh nước… nói tóm lại, đến sinh hoạt hằng ngày của tôi không? Với tâm niệm đó quý vị sẽ khám phá ra những điều mà nhiều nhà chú giải không nói tới.

Tên của kinh là NĂNG ĐOẠN KIM CƯƠNG BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA KINH (Vajracchedika Prajnāparamita Sutra). Năng đoạn là có khả năng chặt đứt, chặt đứt những phiền não và mê lầm của chúng ta. Ở Việt Nam cũng như Trung Hoa, ta hay có khuynh hướng nói tắt là kinh Kim Cương, nhấn mạnh đến danh từ Kim Cương; thật ra từ quan trọng trong này là NĂNG ĐOẠN, tức là khả năng cắt đứt. Do đó chúng ta nên tập cho có lề thói gọi kinh này là Kim Cương Năng Đoạn. Công phu hành trì kinh Kim Cương Năng Đoạn có thể giúp ta cắt đứt, đoạn trừ vô minh và tà kiến của chúng ta.

Đây là những điều tôi được nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Kỳ Thọ Cấp Cô Độc gần thành Xá Vệ, với đại chúng khất sĩ gồm một ngàn hai trăm năm mươi vị.

Câu mở đầu kinh Kim Cang có thể cho chúng ta thấy rằng kinh này có khác với những kinh Bát Nhã khác. Kinh này không nói đến sự có mặt của hằng hà sa số những vị Bồ Tát từ cõi này hay cõi kia tới dự pháp hội. Chi tiết này cho ta thấy rằng kinh này là một trong những kinh ra đời sớm nhất trong toàn bộ văn học Bát Nhã. Mặc dù trong kinh Bụt có nói đến các vị Bồ Tát nhưng chủ lực của thính chúng lúc đó là các vị Thanh Văn.

Hôm ấy vào giờ khất thực, Bụt mặc áo và ôm bát đi vào thành Xá Vệ. Trong thành, Người theo phép thứ đệ khất thực. Khất thực xong, Người xếp y bát, rửa chân, trải tọa cụ mà ngồi.

Đây là hành động được lặp đi lặp lại mỗi ngày của tăng chúng tu viện Cấp Cô Độc. Có một chi tiết mà chúng ta nên để ý là đi khất thực ta không được phân biệt nhà giàu và nhà nghèo, trái lại phải đi tuần tự từng nhà này sang nhà khác. Khất thực như vậy là một pháp môn hành đạo để chứng tỏ và biểu lộ tâm bình đẳng của mình và để có cơ hội tiếp xúc với mọi hạng người trong xã hội hầu làm công việc hoằng hoá. Đôi khi biết trước là nhà đó không dễ thương, không cúng dường mà mình vẫn phải đến và đứng yên vài phút đề chờ đợi dù biết trước rằng họ sẽ ra mắng vào mặt mình vài tiếng. Phải đứng đó để nhận lời mắng trước khi tiếp tục bước sang nhà khác.

Lúc ấy, từ chỗ ngồi của mình trong đại chúng, thượng tọa Tu Bồ Đề đứng dậy, trịch vai áo bên phải ra, quỳ chân hữu xuống, chấp tay cung kính bạch với Bụt rằng: “Thế Tôn, người thật là bậc hiếm có! Thế Tôn thường đặc biệt hộ niệm và đặc biệt giao phó sự nghiệp cho các vị Bồ Tát”.

Đây là học trò khen ngợi thầy. Thầy Tu Bồ Đề nói rằng trên đời này hiếm có một người như Bụt. Tại sao vậy? Tại vì Bụt có khuynh hướng yểm trợ và nâng đỡ cho các vị Bồ Tát. Như vậy có nghĩa là Bụt để ý tới những người có tâm địa Bồ Tát và nâng đỡ cho họ nhiều hơn là những người không có tâm địa Bồ Tát. Những người có tâm niệm Bồ Tát là những người tới tu với mục đích làm vơi những đau khổ không những của mình mà của người khác nữa. Tất cả các người khác đều là đối tượng của sự tu học của mình. Tôi tới tu không phải là để cho một mình tôi, tôi tới tu là để cho cả gia đình tôi, cả xóm làng tôi, cả đất nước tôi cùng được lợi lạc. Cũng như một chàng sinh viên ở Việt Nam ra được nước ngoài luôn nhớ tưởng rằng mình ra được tới đây là phải học, phải thành đạt để cho cả gia đình ở bên nhà được nhờ cậy. Chàng thanh niên đó không để cho những thú vui, những cạm bẫy của thành phố cám dỗ mình. Tôi biết có một chàng sinh viên Việt Nam hiện đang ở Bordeaux; anh chàng này viết trên bàn giấy anh ta mấy chữ: “Phải cắn răng lại mà tranh đấu”. Có lẽ anh ta nghĩ rằng trong một thành phố Tây Phương có quá nhiều cám dỗ về thanh và về sắc và nếu anh ta bị rơi vào những cám dỗ đó thì bao nhiêu trông đợi của gia đình bên kia sẽ không bao giờ được thành tựu. Cho nên anh ta quyết tâm học hành. Tâm niệm gần giống như tâm niệm Bồ Tát của những người đang tu học. Mình tu không phải chỉ để cho riêng mình mà để cho đa số những người đang bị khổ đau. Khi thấy một anh chàng sinh viên như vậy, mình rất thương, mình nói: đối với những người như chàng sinh viên này ta phải có tâm yểm trợ và giúp đỡ. Còn với những anh chàng sinh viên chỉ biết ăn chơi và chìm đắm trong xã hội Tây Phương, quên mẹ, quên cha, quên anh, quên chị, thì ta biết ủng hộ mấy chàng đó không có công đức gì cả, không có hiệu quả chi cả. Vì vậy Bụt nhìn những người có tâm niệm Bồ Tát với cái nhìn đặc biệt và Bụt săn sóc, yểm trợ nhiều cho những người đó, không phải vì kỳ thị mà vì muốn đầu tư. Đầu tư vào Bát Nhã. Lâu nay tôi hay nói với giới trẻ là tôi muốn đầu tư vào giới trẻ. Vì sao? Không phải vì tôi kỳ thị người lớn, nhưng vì nghĩ rằng qua thời đại chiến tranh dai dẳng ở Việt Nam, tâm hồn người lớn bị thương tích quá nhiều nên đầu tư vào họ sẽ không bằng đầu tư vào người trẻ. Con người của chúng ta, sau thời gian ba bốn chục năm chiến tranh dai dẳng không còn được đẹp đẽ như xưa. Con người nhỏ mọn hơn, đa nghi hơn, nhiều giận hờn và thù oán hơn. Do đó nơi đất tâm gai góc và cỏ cú đã mọc đầy. Hạt giống gieo nơi đó khó mọc. Gieo một trăm hạt có thể chỉ có mười hạt hoặc hai chục hạt mọc mà thôi. Trong khi đó thì những người trẻ chưa bị nhiều thương tích lớn của chiến tranh, tương đối là những vết thương của họ nhẹ hơn. Tâm của họ là một miếng đất rất phì nhiêu, vì vậy nếu ta để dành những hạt giống để gieo vào đất tâm của họ thì trong một trăm hạt có thể lên tới bảy tám chục hạt. Lựa những người trẻ để gieo vào đất tâm của họ những hạt giống tốt, đó là công việc đầu tư có thông minh chứ không phải là kỳ thị người lớn. Cố nhiên là mình cũng phải giúp đỡ yểm trợ những người lớn tuổi nhưng mình biết rằng thì giờ, tâm lực và hạt giống của mình có hạn cho nên công việc gieo hạt giống vào những đám ruộng tốt phải được xem là ưu tiên.

Năm ngoái khi học kinh Đại Tạng Nam Truyền, ta có học tới chỗ một vị cư sĩ phân bì là tại sao Bụt chăm sóc các thầy và các sư cô nhiều hơn là chăm sóc họ. Bụt nói rằng vì các thầy và các sư cô đang để hết thì giờ và tâm lực vào chuyện tu học cho nên những thửa ruộng tâm của họ phì nhiêu hơn, vì vậy Bụt để thì giờ nhiều hơn cho các thầy và các sư cô. Thầy Tu Bồ Đề là một thầy lớn nên gọi là trưởng lão (Mahathera); thầy thấy rất rõ là Bụt có biệt nhãn với các bậc Bồ Tát, tức là những bậc đệ tử có chí nguyện lớn tu học – tu là vì đời chứ không phải chỉ để cho riêng mình – và Bụt yểm trợ đặc biệt cho những vị đó.

“Thế Tôn, người thật là bậc hiếm có! Thế Tôn thường đặc biệt hộ niệm và đặc biệt giao phó sự nghiệp (đặt niềm tin và giao trách nhiệm) cho các vị Bồ Tát”. Nếu trong đại chúng mà có những vị chỉ muốn tu cho riêng mình thôi thì đại chúng làm sao mà tin tưởng và phó thác cho những người đó những công tác có lợi ích cho quần sanh? Vì vậy nên Bụt chẳng những đã yểm trợ cho các vị Bồ Tát đó mà còn đặt niềm tin và giao trách nhiệm cho họ nữa.

-  Thế Tôn, những người con trai hiền và những người con gái hiền nào muốn phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác thì nên nương tựa vào đâu và làm sao mà điều phục tâm của họ?

Khi bước lên đường tu học thì mình có cái tâm tu học. Khi mình phát tâm Bồ Tát, tức là tâm muốn đạt đến cái thấy cao nhất và cái sự nghiệp độ sinh cao nhất, thì cái tâm đó phải nương vào đâu và làm sao mà mình có thể điều phục được tâm mình?

Bụt bảo: “Hay lắm, thầy Tu Bồ Đề! Thầy nói thật đúng, Như Lai thường đặc biệt hộ niệm và giao phó sự nghiệp cho các vị Bồ Tát. Này, thầy hãy lắng nghe cho kỹ, Như Lai sẽ vì thầy mà trả lời. Những người con trai hiền hay những người con gái hiền nào muốn phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác thì phải nương tựa và phải điều phục tâm của họ như thế này.”

Thầy Tu Bồ Đề nói: “Bạch Thế Tôn, chúng con rất mong được nghe người chỉ dạy”.

Bồ Tát (Bodhisattva) là người đã giác ngộ và đang giúp cho những người khác giác ngộ. Sattva có nghĩa là hữu tình. Chữ hữu tình hay hơn chữ người vì trong các loại hữu tình loài người chỉ là một loài thôi. Điều đó có nghĩa là các giống hữu tình khác cũng có khả năng giác ngộ. Bodhi là giác ngộ, bodhisattva là một sinh vật đã được giác ngộ và đang đi giác ngộ cho những loài hữu tình khác. Chúng ta chỉ đọc là Bồ Tát thôi nhưng kỳ thực ra, nói cho đủ là Bồ Đề Tát Đỏa. Còn chữ Ma Ha Tát (Mahasattava) nói cho đủ là ma ha tát đỏa. Maha là lớn, là đại; Mahasattava là đại hữu tình, đại nhân hoặc là con người lớn hoặc cũng có thể gọi là vĩ nhân.

Bụt bảo Tu Bồ Đề: “Các bậc Bồ Tát đại nhân nên hàng phục tâm họ như sau. Có cả thảy bao nhiêu loại chúng sanh, hoặc sinh bằng trứng, hoặc sinh bằng thai, hoặc sinh từ sự ẩm ướt, hoặc bằng sự biến hoá, hoặc có hình sắc, hoặc không có hình sắc, hoặc có tri giác, hoặc không có tri giác, hoặc không phải có tri giác cũng không phải không có tri giác, ta phải đưa tất cả các loài đó vào Niết Bàn tuyệt đối để được giải thoát”.

Giải thoát đây là đạt tới Niết Bàn. Niết Bàn có nghĩa là tắt ngấm. Làm tắt ngấm những nguyên nhân của khổ đau, chấm dứt những nguyên nhân của khổ đau và đạt tới trạng thái an lạc không còn bị khổ đau dằn vặt thì gọi là giải thoát, là Niết Bàn hay là diệt độ. Các bậc đại nhân thường phát nguyện thật lớn là độ tất cả các chúng sanh, đưa tất cả các chúng sanh về tới cõi Niết Bàn tuyệt đối để cho họ thừa hưởng sự an lạc. Niết Bàn tuyệt đối cũng gọi là Niết Bàn Vô Dư, đối với Niết Bàn Hữu Dư, tức là Niết Bàn còn sót lại chút ít quả báo. Có người giải thích Hữu Dư Niết Bàn là trạng thái Niết Bàn trong đó có cái thân ngũ ấm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) vẫn còn tồn tại. Thân ngũ ấm còn lại trong vòng mấy chục năm đó gọi là hữu dư tức là quả báo còn sót lại. Và khi chết rồi, khi năm yếu tố (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) ấy tan rã hoàn toàn rồi thì người đạt Niết Bàn đi vào Niết Bàn Vô Dư, không còn để lại dấu vết gì cả. Tôi không đồng ý lắm với lối giải thích đó. Những nguyên do của đau khổ đã gây ra trong quá khứ, khi được mình đoạn tận và chuyển hoá, cố nhiên sẽ không còn đưa tới kết quả đau khổ nữa, nhưng mà cái gì tồn tại một thời gian thật lâu đến khi bị cắt đứt vẫn có thể còn tiếp tục một thời gian mới ngưng hẳn được. Cái mà ta bảo là đã ngưng hẳn đây không phải là thân ngũ uẩn của mình mà chính là cái nghiệp báo còn lại. Ví dụ như khi mình bật quạt máy lên thì cánh quạt quay vù vù. Và khi mình tắt quạt, tuy điện cắt rồi mà cánh quạt vẫn còn quay. Nghĩa là nhân đã đoạn rồi nhưng quả vẫn còn. Quả đây là những cái quả khổ còn rơi rớt lại chớ không phải là thân ngũ uẩn. Thân ngũ uẩn là khác mà cái quả khổ là khác. Ví dụ là tuy Bụt đã giác ngộ rồi mà một hôm vẫn còn bị Đề Bà Đạt Đa lăn đá và bị thương nơi chân. Bị thương chân không phải là do ngũ uẩn. Bụt không còn nghiệp nhân, tại sao còn nghiệp báo? Mình chỉ có thể cắt nghĩa rằng tuy đã hết nghiệp nhân rồi nhưng cái đà nghiệp báo vẫn còn. Và như thế không phải có nghĩa là sau khi Bụt nhập diệt rồi, người mới đạt Niết Bàn Vô Dư. Kinh đại thừa hay nói là Bồ Tát cỡi trên sóng sanh tử mà đi. Cỡi trên sóng sanh tử là tuy có sanh có tử nhưng mà mình không chìm đắm trong sanh tử. Trong khi đi dạo chơi trong biển sanh tử các vị thánh nhân ấy đang an trú trong Vô Dư Niết Bàn chứ không phải là đang ở trong Hữu Dư. Tuy là có thân thể, tuy đang cỡi trên pháp thuyền mà đi nhưng họ không thấy khổ đau. Vì vậy Hữu Dư ở đây không phải là thân ngũ uẩn mà là những cái khổ đau còn rơi rớt lại do cái đà nghiệp báo. Câu kinh ta đang đọc này có nghĩa: bất cứ các loài chúng sanh nào, bất cứ sinh ra dưới hình thức nào, tôi cũng có nguyện muốn đưa họ từ biển sanh tử đi qua bờ Niết Bàn tuyệt đối. Câu này nói về chí nguyện lớn của một vị Bồ Tát. Đó là điều kiện tiên quyết để một con người trở nên một vị Bồ Tát, một con người giác ngộ, một con người lấy sự nghiệp giác ngộ làm sự nghiệp của đời mình, một con người gọi là Ma Ha Tát, một đại nhân, một con người mà Bụt đặc biệt giúp đỡ và ân cần giao trách nhiệm. Đây không phải chỉ là điều kiện căn bản mà còn là điều kiện đầu tiên. Nếu không có lời phát nguyện này thì không có gì hết. Nó là nền tảng của vô thượng bồ đề, của chí nguyện Bồ Tát. Bây giờ chúng ta hãy nhìn lại cái tâm của ta, nhìn lại cái tăng thân của chúng ta và thử đặt câu hỏi: câu kinh này có dính líu gì tới đời sống hôm nay của chúng ta ở xóm Thượng và xóm Hạ hay không? Chúng ta đang thực tập vì chúng ta hay vì những người khác? Chúng ta chỉ muốn thoát khỏi những cái khổ đau ray rứt trong tâm chúng ta hay là chúng ta thực tình đang có tâm niệm lớn tu học để sau này đem hạnh phúc tới cho đời? Nhìn lại để xem chúng ta có phải là con người mà Bụt đang nhìn, đang nâng đỡ, đang đầu tư vào hay không? Và nếu ta đang quả thực có tâm đó thì biết ngay rằng ta đang có; không phải là sau bao nhiêu năm tu học rồi tâm đó mới phát hiện. Nếu chúng ta quả thật đang có tâm ấy thì ta có thể thấy tâm ấy phát hiện ngay trong giờ phút này, ngay trong ngày hôm nay. Đối với con mèo, con chuột hay con sâu, con ốc ngay trong vườn rau của chúng ta, ta cũng sẽ biết đối xử với chúng bằng tâm bồ đề của chúng ta. Khi rửa nồi, thấy có mấy hạt cơm còn dư lại, ta cũng sẽ nghĩ rằng những hạt cơm này để ra một bên thì cũng có thể cho chim ăn được. Hành động nhỏ ấy, chứng tỏ rằng chúng ta có lòng thương tưởng đến mọi loài chúng sanh. Vậy nên đời sống hằng ngày của chúng ta hoặc biểu lộ hoặc không biểu lộ đại tâm của những vị Bồ Tát đại nhân. Trong khi chúng ta học kinh đại thừa, học về hành động của các vị Bồ Tát, chúng ta hãy tập nhìn lại bản thân, nhìn lại hành động hằng ngày của chúng ta, để quán sát cách chúng ta uống trà, cách chúng ta ăn cơm, cách chúng ta rửa nồi, cách chúng ta trồng rau… như vậy chúng ta sẽ biết được rằng chúng ta đã có hay chưa có cái đại tâm đó ở trong lòng. Điều đó mỗi người chúng ta có thể tự biết và các bạn cùng tu nhìn vào ta cũng có thể biết được phần nào. Những loài chúng sanh được nhắc đến trong kinh này đâu có ở xa ta. Trước hết họ là những sư tỷ, sư muội, sư huynh và sư đệ của mình. Họ đang có những niềm vui và những niềm đau của họ. Chúng ta phải thấy họ, tới với họ và cởi mở với họ. Còn như nếu chúng ta chỉ là một hải đảo cô đơn, độc lập, sống trong một tăng thân mà không thấy được tăng thân đó, không mỉm được một nụ cười với tăng thân đó thì chúng ta quả thực đang là những kẻ độc hành và không có tâm Bồ Tát. Ngoài những pháp huynh, pháp đệ, pháp tỷ và pháp muội còn những loài động vật và thực vật khác trong vườn, trong sân, trên trời… Tất cả đều là những loài chúng sanh mà câu kinh này nói tới. Chúng ta phải thấy được rằng những loài chúng sanh đó có liên hệ tới sự thực tập của chúng ta, sự tu học của chúng ta. Nếu trong chúng ta có cái tâm bồ đề kia thì tự nhiên ta sẽ thấy những chúng sanh đó có liên hệ trực tiếp với đời sống hằng ngày của chúng ta, ngay bây giờ. Sau khi nói câu quan trọng đó thì Bụt lại nói thêm một câu nữa, cũng rất quan trọng: câu này đi ngay tới phương pháp của Bát nhã. Nguyên tắc của Bát nhã là phải phát tâm đại thừa và đại bi thì mới gọi là Bồ Tát. Phương pháp của Bát Nhã là phải thực hiện những điều đó bằng tinh thần vô tướng. Đó là nội dung của câu kế tiếp:

-  Giải thoát cho vô số, vô lượng, vô biên chúng sanh như thế, mà kỳ thực ta không thấy có chúng sanh nào được giải thoát.

Đó là tiếng sét đầu của Kinh Kim Cương nhằm khơi mở tinh thần vô tướng. Hành giả thực hiện việc độ sanh một cách tự nhiên, không thấy có sự phân biệt đây là người làm, đây là người được giúp đỡ, đây là người độ và đây là người được độ, đây là người thực tập từ bi và đây là người hưởng thụ sự thực tập từ bi. Hành động với tinh thần đó mới đúng là hành động theo tinh thần Bát Nhã. Khi bàn tay trái bị thương, bàn tay phải lập tức nắm lấy và tìm cách băng bó. Trong khi đó bàn tay phải không tuyên bố: “Ta là bàn tay phải, ta đang săn sóc ngươi, ngươi là đối tượng hành đạo của ta. Chính vì ngươi mà ta phát được cái tâm từ bi”. Bàn tay phải không bao giờ nói và không bao giờ có tâm niệm như thế. Vị Bồ Tát cũng làm giống hệt như bàn tay mặt đối với bàn tay trái, không có ý niệm về người làm và người được thừa hưởng. Đó là tinh thần vô tướng. Tại sao? Tại vì bàn tay phải biết quá rõ là tay trái cũng chính là nó: tay phải và tay trái không phải là hai, giữa hai bên không có sự phân biệt. Đó là tinh thần tương tức (interbeing). Tương tức là cộng hữu, nghĩa là cùng có mặt với nhau, cùng nương trên nhau mà có mặt, cái này có vì cái kia. Với nhận thức tương tức đó, bàn tay trái giúp bàn tay phải một cách vô tướng, không thấy có bàn tay phải cũng không thấy có bàn tay trái. Khi một vị Bồ Tát làm việc độ sanh, vị ấy không thấy rằng mình đang độ một chúng sanh nào cả. Mình làm như là mình thở vậy. Người sư huynh mình đang đau khổ, mình tới an ủi giúp đỡ sư huynh một cách tự nhiên như mình thở hay uống trà. Mình không nói: Ta phải để ra một thời gian cho các sư huynh và các sư muội tại vì ta phải thực tập giáo lý, tại vì thầy đã nói như vậy, đã dạy mình phải làm như vậy. Không cần có tư tưởng phải giúp. Tự nhiên mình thấy cần phải làm như vậy, thế thôi. Không thấy có sư huynh cần phải giúp và không thấy rằng mình là người sư đệ cần phải giúp sư huynh. Điều này đâu phải là một điều khó hiểu. Nếu làm được theo tinh thần vô tướng thì sau này mình sẽ không nói: Cái huynh đó há, ngày xưa khi còn bệnh, mỗi ngày tôi đều giúp đỡ: “cạo gió nè, nấu cháo nè, tôi làm cái này, cái nọ…” và bây giờ thì tệ với tôi như vậy đó. Nếu bây giờ nói như thế thì ta biết là bao nhiêu năm qua, ta đã làm trong tinh thần hữu tướng hữu chấp và như vậy thì theo tinh thần Bát Nhã ta đã không có một chút công đức nào cả. Cái vô tướng nói đây là chuyện mình có thể sờ mó được. Đó không phải là những tư tưởng cao vời trên trời dưới biển mà là chuyện mình có thể thực tập được ở đây và ngay ngày hôm nay. Nếu mình thấy một sư muội làm biếng hơi nhiều, làm biếng ngoài ngày làm biếng (bị chú: ở Làng Hồng mỗi tuần có một ngày gọi đùa là ngày làm biếng, không có chuông bảng, không có công khóa chính thức và mọi người được khuyến khích thực tập thư giãn càng nhiều càng tốt. Ngày này tuy vậy rất thanh tịnh và đầy chánh niệm) và trong khi làm việc cực nhọc mình bỗng nẩy sanh ra vài tư tưởng phiền não, nghĩa rằng mình đang làm việc cực như vầy mà cô ấy không chịu làm gì cả, chỉ ở trong phòng cô thôi và có thể là giờ này cô đang nghe nhạc v.v… Càng nghĩ mình càng thấy bực bội và trong khi có sự bực bội ấy thì những công tác mình đang làm sẽ không đem lại công đức tối thiểu nào cả. Mình làm là mình làm thôi. Không có mặt các sư huynh sư muội khác ở đây thì đã sao? Mình làm là làm cho mình thôi và cũng là làm cho đại chúng nữa vì đại chúng chính là mình. Và vì đang làm một cách vô tướng nên mình không nghĩ và không nói rằng: “mình làm nhiều còn người đó không làm gì cả”. Nếu còn có ý tưởng là mình làm nhiều mà người đó không làm gì cả tức là mình còn kẹt vào hữu tướng. Khi làm mà mình không thấy có ai đang làm và có ai không đang làm cả thì lúc đó mình đang thực sự tu hạnh vô tướng. Ai nói rằng chúng ta không áp dụng được tinh thần Bát Nhã ngay trong đời sống hằng ngày? Hãy áp dụng nó khi ta đang rửa nồi hoặc đang chùi nhà vệ sinh. Quý vị làm như bàn tay phải đang băng bó cho bàn tay trái với tinh thần vô phân biệt. “Giải thoát cho vô số, vô lượng, vô biên chúng sanh như thế, mà kỳ thực ta không thấy có chúng sanh nào được giải thoát” là như vậy. Nói như vậy không phải là nói suông. Có đưa qua thật, có đưa qua rất nhiều chúng sanh thật, nhưng mà thấy như là không có đưa người nào cả. Bụt không dạy chúng ta làm thể dục trí óc trong đầu với những tư tưởng này nọ. Bụt dạy chúng ta thật sự giúp đỡ và tế độ các loài chúng sanh. Nếu Bụt chỉ nói nội một câu đó mà các đệ tử đã có thể hiểu được thì quả thật là hay quá đi, tại vì chính câu nói đó chứa đựng đầy đủ nghĩa lý rồi. Nhưng vì thương một số người chưa hiểu nên Bụt nói tiếp để cắt nghĩa câu ấy:

Đăng ký tài khoản miễn phí để mở khoá toàn bộ cuốn sách

Bạn đang đọc bản xem trước của tác phẩm. Nhấn nút dưới đây để chuyển sang giao diện đọc sách chuyên nghiệp với đầy đủ công cụ ghi chú và đổi giao diện.

Đọc Tiếp Bản Đầy Đủ

Đánh giá & Nhận xét

Chưa có đánh giá nào. Hãy là người đầu tiên!