
Chào mừng bạn! Cuốn sách này hoàn toàn miễn phí. Đọc ngay để khám phá tri thức mới.
Cho Đất Nước Đi Lên
Giới thiệu tác phẩm
Đọc thử tác phẩm
Xem trước một vài chương đầu tiên trực tiếp từ bản thảo EPUB.
Vấn Đáp
Hỏi: Con bạch Thiền sư, bạch tăng thân Làng Mai. Suốt chuyến đi về Việt Nam của thiền sư và tăng thân Làng Mai, hầu như là con đi nghe hết các buổi pháp thoại của Thiền sư. Con thấy giáo lý nhà Phật rất là hay, thật sự rất là nhiệm mầu và có thể nói là thù thắng. Con nhận thấy rằng: Những người hiểu được đạo lý nhà Phật, biết được giáo lý nhà Phật thường là những người đứng tuổi, chủ yếu là người già. Trong khi đó giới trẻ như chúng con chẳng hạn, tương lai của đất nước, hiểu biết rất ít về Phật giáo, về giáo lý nhà Phật. Vậy thì theo ý của Thiền sư có những phương thức hoặc là những cách trình bày như thế nào để giáo lý nhà Phật có thể tiếp cận thành công đến với giới trẻ như chúng con. Xin cảm ơn Thiền sư.
Thiền sư Nhất Hạnh:Nếu mà quý vị nhìn các vị xuất gia của Làng Mai, quý vị thấy rằng có nhiều thầy, nhiều sư cô rất trẻ. Chúng tôi có thể nói rằng phần lớn những thiền sinh Âu châu và Mỹ châu tới tu tập với chúng tôi đều là những người trẻ. Họ phần lớn là những người trẻ và những người trí thức. Những người lớn tuổi bên đó họ có nhiều người bảo thủ hơn, không có khả năng buông bỏ được thói quen của họ. Trong chuyến đi này chúng tôi nhận thấy ở các chùa miền Bắc không có nhiều người trẻ tới. Ở các chùa miền Nam và miền Trung thì số lượng những người trẻ, những người thanh niên, thiếu nữ đông hơn. Đây là câu hỏi nên đặt cho các vị lãnh đạo Phật giáo ở Hà Nội, ở miền Bắc. Chúng ta phải tạo ra những cơ hội để cho người trẻ tới tiếp xúc với giáo lý mầu nhiệm này. Chúng tôi thấy trước hết các thầy, các vị giáo thọ, các vị giảng sư phải có một thứ ngôn ngữ. Một thứ ngôn ngữ có thể giúp cho người trẻ hiểu được giáo lý đạo Phật. Nếu chúng ta dùng ngôn ngữ quá cổ điển, quá nhiều danh từ Phật học thì chúng ta không thành công được. Chúng ta phải hiện đại hóa ngôn ngữ của chúng ta. Chúng ta phải biết nói được ngôn ngữ của người trẻ, đó là một điều kiện.
Điều kiện thứ hai là chúng ta phải cung cấp những giáo lý và những phương pháp thực tập hữu hiệu, đáp ứng lại được với những khó khăn, những khổ đau của người trẻ. Được như thế tự nhiên người trẻ tìm tới những giáo lý và sự thực tập đó. Tại các tu viện của chúng tôi ở Âu châu và Mỹ châu người trẻ Âu châu, Mỹ châu tới rất nhiều. Các thầy, các sư cô ở đây phần lớn đều giảng dạy và hướng dẫn được bằng tiếng Anh, tiếng Pháp hay tiếng Đức. Số lượng những người trẻ Âu Mỹ tới các trung tâm tu học của chúng tôi đông lắm. Các thầy và các sư cô tuy là còn trẻ như vậy đó nhưng rất có kinh nghiệm trong sự hướng dẫn những người trẻ học hỏi và tu tập theo tuệ giác của đạo Phật. Tôi nghĩ rằng các bạn trẻ ở Hà Nội, ở miền Bắc phải tới với nhau và phải đưa vấn đề này ra để đàm luận, rồi sau đó đem vấn đề tới cho các thầy, các sư cô ở các chùa.
Làm thế nào để có một môi trường cho người trẻ tới được và cảm thấy thoải mái. Chứ nếu mà người trẻ tới chùa chỉ thấy sự cúng bái, cầu xin thì không đủ. Xin cảm ơn người bạn đã đặt câu hỏi đó.
Ông Đại Sứ Egypt: First… Executive… Express my thanks and thanks for all of us to the venerable TNH for this great word and great expression about happiness. Really I was impressed but by what we have been listening for, this is it: if this were happened in this world, the whole world´d live in peace. Your Excellency, don’t you agree with me, that also the dialog between all religions - you have been talking about this dialog between Christianity and Buddhism in Paris with some leaders of christianity, the Catholic Church. I think also we are in need for more dialogs between Buddhism, the Catholics, the Orthodox, the Jewish and the Muslim.
The moment in which we are living now, we are facing, the whole world is facing a lot of troubles. This is because of misunderstanding between the societies, between the councils, between people. But the reality is completely different. For example, you have mentioned about what was happened in the Middle East. When people get in touch, when people are talking together, when people can understand each other, people will live in peace.
For us, as Muslim, in the Middle East, really what the people are listening, is that they listen to what, they have misinterpreted the Islamic though, because Islam means peace, and (for) the Islamic theory (is) completely far from what has been described for.
What we need also – the differences between the governments and the societies. The Governments all must make the control and put peace in orders among societies. But, what we have now, everything is confused in this world. The world is moving in the opposite direction.
Really, we are in needs to explain to each other, to stay with each other, to listen to the different ideas the other part of the other area are talking about. If they are talking correctly, if what they have, they have the right soul, or the wrong soul. We have to interact together. Thank you very much [9]
Thiền sư Nhất Hạnh: Nói tiếng Anh: I have talked about the practice of listening deeply, listening with compassion and using loving speech as a wonderful mean in order to establish dialog, mutual understanding and restore communication. What we need in this moment is communication, we have many sophisticated means of communication like email, fax,.. But communication, between man and man, human and human have become very difficult. That is why practicing listening deeply, the compassion and using loving speech to restore communication is the basic practice for peace. Thank you.
Tôi có nói về sự thực tập lắng nghe, nghe với lòng từ và dùng ái ngữ như là phương tiện tuyệt vời để chúng ta thiết lập đối thoại, hiểu nhau và tái lập được truyền thông. Điều mà chúng ta cần bây giờ là sự truyền thông. Chúng ta có nhiều phương tiện truyền thông tinh xảo như email, fax… Nhưng truyền thông giữa người và người, giữa loài người với loài người đã trở thành quá khó khăn. Vì vậy thực tập lắng nghe với lòng từ và dùng lời yêu thương để thiết lập lại được truyền thông là thực tập căn bản để đem lại hòa bình trên thế giới. Xin cảm ơn
Hỏi: (Tiến Sĩ Nguyễn Hữu Sơn) Kính thưa Thiền sư Thích Nhất Hạnh, kính thưa quý vị đại biểu. Tôi đã được dự một buổi pháp thoại trước tết Âm lịch. Thiền sư nói chuyện ở Viện Tôn Giáo và lúc đó chúng tôi cũng rất muốn đặt một câu hỏi nhưng chưa có điều kiện. Xin tự giới thiệu chúng tôi công tác ở viện Văn Học và cũng có làm một đề tài nghiên cứu. Từ năm 1991 được phép của bộ Giáo Dục và Đào Tạo của Việt Nam đã làm đề tài Khảo sát loại hình truyện thiền sư trong tác phẩm Thiền Uyển Tập Anh mà Thiền sư Thích Nhất Hạnh và cũng là nhà nghiên cứu Nguyễn Lang đã dày công nghiên cứu. Trong nỗ lực tìm hiểu về tác phẩm Thiền Uyển Tập Anh, công trình của chúng tôi đã được nhà xuất bản khoa học xã hội xuất bản và tái bản. Trong công trình nghiên cứu của Thiền sư có phần tìm hiểu về những người đã xây dựng, góp công tạo nên tác phẩm Thiền Uyển Tập Anh từ Thông Biện rồi là Thường Chiếu Thần Nghi Vạn Thông. Đó là một đóng góp rất quan trọng.
Nhưng ở đây tôi xin hỏi thêm một chút về phát hiện gọi là tìm ra Trần Tung và Trần Quốc Tảng. Đây cũng là một vấn đề rất chuyên sâu mà Thiền sư đã phát hiện. Việt Nam Phật giáo sử luận in phần này, từ năm 1973 đã được tái bản. Sau đó đến năm 73, 74 một tạp chí nghiên cứu về lịch sử và triết học ở Pháp (tôi nhớ là từ trang 749 tới 751) viết về phát hiện của Thiền sư. Xin Thiền sư với tư cách nhà nghiên cứu cho chúng tôi xin biết là thời điểm ban đầu, lần đầu tiên mà Thiền sư đã phát hiện ra vấn đề này chứ không phải công bố năm 73, tức là công bố lần đầu tiên ở những văn bản khác và cơ duyên đưa đến phát hiện nầy (phát hiện về Trần Tung và Trần Quốc Tảng).
Câu hỏi thứ hai liên quan đến tình trạng ở Việt Nam hiện nay. Có thể nói đây là giai đoạn phục hưng Phật giáo qua việc xuất hiện nhiều chùa chiền và rất nhiều những tập san, tạp chí nghiên cứu phật học, như báo Giác Ngộ ở Sài Gòn. Qua những điều mà Thiền sư đã thấy được ở Việt Nam trong thời gian qua thì Thiền sư đánh giá bước phát triển hiện nay của ngành nghiên cứu Phật học như thế nào?
Xin Thiền sư cho chúng con, những người nghiên cứu Phật học một lời khuyên khái quát. Xin cảm ơn Thiền sư và tất cả các vị.
Thiền sư Nhất Hạnh: Xin cảm ơn giáo sư. Thật ra tôi viết Việt Nam Phật Giáo Sử Luận nhưng bây giờ trong giây phút hiện tại tôi quên hết những gì tôi đã viết trong đó. Hồi đó thì tôi được giáo sư Demiéville [10] mời giảng ở trường Sorbonne [11]. Chúng tôi giảng dạy trong một phân khoa gọi là science historique et philologique. Tôi nhận giảng dạy về môn lịch sử Phật giáo. Ban đầu tôi không có ý muốn viết cuốn sách đó nhưng khi giảng dạy thì tự nhiên tôi nghĩ rằng với những tư liệu đang có tại sao mình không ngồi xuống để viết ra cho các tăng sinh và ni sinh sử dụng. Do đó mới có cuốn Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, chứ thật ra tôi không hề có ý muốn làm sử gia. Tôi không hề có ý muốn đó nhưng mà thời thế đưa tới như vậy thôi. Trong những tháng vừa qua, khi tiếp xúc với Phật tử Việt Nam với các nhà nghiên cứu Phật học tôi có nhận xét rằng cái học của chúng ta về Phật học còn có tính cách từ chương quá, chưa đủ tính khoa học. Các trường đại học lớn ở Tây phương dạy môn Phật học rất đúng theo tinh thần khoa học. Họ cấp phát những văn bằng tiến sĩ về Phật học. Tuy là theo đúng tinh thần khoa học nhưng lối học đó vẫn từ chương như thường. Sau khi đậu bằng tiến sĩ rồi thì những khó khăn, những khổ đau của mình, mình cũng không biết cách giải quyết.
Trong truyền thống đạo Phật thì cái học phải đi đôi với cái hành, học tới đâu thì hành tới đó. Nghĩa là những khổ đau, khó khăn, những mâu thuẫn trong người của mình, những khó khăn của mình đối với thầy, đối với bạn, mình phải giải quyết cho được. Giải quyết được những cái đó thì mình mới có khả năng đi ra ngoài đời để giúp người đời. Hiện bây giờ tôi thấy rằng học Phật ở Việt Nam dù là ở cấp cơ bản, cấp trung cấp hay là cấp học viện cũng đều đang còn tính lý thuyết rất nhiều.
Tôi nghĩ rằng chúng ta phải cải tổ liền lập tức cái học của chúng ta cho nó được thực tiễn. Bên Làng Mai chúng tôi đã theo con đường đó từ lâu rồi. Chúng tôi học nhiều nhưng những cái học của chúng tôi luôn luôn được đưa ra pháp đàm và đặt câu hỏi là những cái học này được áp dụng như thế nào?
Môn Tâm lý học Phật giáo, tức là Duy thức học, có nhiều vị giáo thọ ở Việt Nam có thể giảng dạy rất lưu loát, rất sâu sắc nhưng khi nói áp dụng Duy Thức Học vào đời sống hàng ngày để giải quyết những khó khăn thì ít người có thể làm được chuyện đó. Trong khi ở Tây phương chúng tôi đã đi khá xa trên con đường đó. Chúng tôi đã áp dụng được giáo lý của Hoa Nghiêm, của Pháp Hoa, của Kim Cương, của Duy thức vào trong việc giải quyết những vấn đề khổ đau của đời sống hàng ngày. Trên phương diện này thì chúng tôi nghĩ rằng mình có thể đóng góp thực tiễn được một phần nào cho nền học Phật Pháp ở trong nước.
Chúng tôi có rất nhiều tư liệu và nhiều kinh nghiệm về chuyện đó. Trên thực tế chúng ta đã giúp cho vô số những cặp cha con, vợ chồng họ hòa giải được với nhau. Nếu không có những phương pháp cụ thể đích thực thì mình đã không làm được công việc đó. Nhà nước hiện bây giờ có những chương trình thiết lập, xây dựng những khu phố văn hóa, những thôn văn hóa. Mình muốn những cộng đồng đó không có những tệ nạn xã hội như ma túy, xì ke, như là bạo động, băng đảng, tội phạm, đĩ điếm nhưng những phương tiện mình có để xây dựng chẳng qua chỉ là pháp trị thôi, nghĩa là kiểm soát và trừng phạt.
Chuyện thực tập căn bản làm thế nào để cha truyền thông được với con, để cho vợ và chồng thiết lập lại được truyền thông với nhau. Làm sao cho người trẻ tin cái gọi là hạnh phúc gia đình là một cái gì có thật, để họ muốn trở về gia đình, đừng đi ra ngoài tìm sự lãng quên mà sa vào hầm hố của băng đảng, của tội phạm, của xì ke ma túy, của đĩ điếm. Đó là những cái mà đạo Phật có thể làm được. Các thầy, các sư cô và các Phật tử lớn tuổi và trẻ tuổi có thể đóng góp hầu có thể giúp cho chương trình thiết lập những khu phố văn hóa, những thôn văn hóa được thành công. Nếu không thì tôi e rằng chương trình sẽ không thành công. Điều này liên hệ tới cái học và hành của chúng ta.
Hỏi: (Giáo sư Nguyễn Huệ Chi) Kính thưa Sư Ông, kính thưa tăng thiền Làng Mai, kính thưa các vị khách quý. Từ khi Sư Ông về Việt Nam đến nay tôi có được mời đến dự ba buổi pháp thoại của Sư Ông, ở Viện Tôn Giáo, ở câu lạc bộ Bộ ngoại giao và buổi hôm nay. Nhưng có lẽ tôi may mắn hơn một số người trong chúng ta là cách đây đúng mười năm bốn tháng tôi đã đến Làng Mai và đã được nghe pháp thoại của Sư Ông trong hơn mười ngày. Tôi biết hôm nay là buổi nói cuối cùng của Sư Ông ở tại Hà Nội, miền Bắc. Vì buổi trước tôi đã nêu một số câu hỏi lên Sư Ông, cho nên hôm nay tôi xin phép được nói một vài cảm tưởng về những điều tôi tiếp xúc và cảm nhận ở Sư Ông, coi như là một lời giã từ.
Điều cảm nhận đầu tiên của tôi là khi gặp Sư Ông cùng với Thiền sư Thích Thanh Từ. Sư Ông có nói với tôi như thế này: Đối với các trí thức như giáo sư thì để tập thiền điều đầu tiên hãy bỏ hết tất cả mọi kiến thức ở trong đầu ra ngoài đã, lúc đó giáo sư mới có thể thiền tập được. Điều ấy tôi cảm nhận rất thấm thía ở người học trò của tôi, tiến sĩ Nguyễn Hữu Sơn cũng là anh vừa đặt câu hỏi. Tôi nghĩ anh chưa bỏ những cái gì ở trong đầu ra ngoài. Trong mười ngày ở Làng Mai năm 1994 cũng như qua ba buổi pháp thoại của Sư Ông tôi thấy mình đã lãnh hội được một điều: Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã không ban cho ai một quả hạnh phúc nào mà Thiền sư trao cho người ta cái chìa khóa để ta tự mở cửa kho báu hạnh phúc ở trong mình, tìm lấy hạnh phúc của chính mình. Cái thấy này quan trọng vô cùng. Cách đây chừng vài chục năm thôi, chúng ta cứ ngồi chờ hạnh phúc ở trên ban xuống và dùng tem phiếu để đi mua gạo hàng ngày và cuối cùng thì chúng ta không có hạnh phúc. Hạnh phúc là cái chúng ta tự tìm lấy. Những người kỳ diệu như Sư Ông gợi mở để chúng ta tự đón lấy hạnh phúc ở trong chúng ta. Những điều tôi học được từ Sư Ông mười năm bốn tháng trước là gạt bỏ mọi sân hận khi mình nhìn mình và nhìn đời và tìm thấy niềm vui trong hiện tại. Cái đó chi phối chúng tôi cho đến tận giờ phút này. Trong mười năm tôi đã cùng với các bạn đồng sự như là giáo sư Trần Đình Sừng và nhiều giáo sư ngồi dưới này làm bộ Tự điển văn học bộ mới. Bộ tự điển này nói lên tinh thần không còn sân hận khi nhìn những giá trị văn học là những giá trị vĩnh hằng. Bộ Tự điển mình hôm nay đã thành, coi như là một cái quả của mối duyên giữa tôi với Sư Ông, giữa chúng tôi với Sư Ông. Hôm nay tôi xin đưa tặng Sư Ông để làm kỷ niệm. Tôi cũng đưa thêm một bài phê bình bộ tự điển ấy của một vị phó giáo sư đang ngồi ở dưới này. Bài phê bình có đưa một câu hỏi tại sao trong bộ tự điển này không có tên Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Đó cũng chính là một lời tạ lỗi với Sư Ông. Tuy có cơ duyên gặp gỡ 10 năm trước nhưng sau đó tôi chưa có dịp tìm hiểu nhiều về tiểu sử của Sư Ông cho nên chưa thể đưa vào bộ Tự điển này được. Bây giờ tôi xin đưa tặng Sư Ông.
Tôi xin nói thêm một ý thứ hai, có nhiều vị ở đây chưa được đến Làng Mai. Trong thời gian mười ngày ở Làng Mai tôi có cảm tưởng mình sống lại được một không khí ngày xưa. Những ai từng sống vào thời kháng chiến chống Pháp từ năm 1947 cho đến năm 1952 thì có thể cảm nhận được. Ở đó con người thật sự thương yêu nhau, ở đó con người sống rất đẹp với nhau. Cái không khí tưởng không bao giờ có trở lại nữa. Chúng ta được sống lại không khí ấy tại Làng Mai. Và Làng Mai là gì? Làng Mai vốn được kiến tạo trên một gò đồi có suối có rừng. Đó là một cái vignoble tức là một nơi trồng nho. Ở nước Pháp những nơi có vignoble để trồng nho và sản xuất ra rượu nho rất là ít. Việc đầu tiên của Sư Ông là cho chặt ngay cái vignoble và trồng thay bằng cây mai tức là cây mận để nhớ đến Việt Nam, nghĩ đến Việt Nam và để coi mảnh đất ấy là một mảnh đất Việt Nam.
Điều tôi lấy làm lạ là nếu ở Việt Nam, tại các chùa chiền người ta đến cúng bái, thắp hương cầu khẩn phúc lợi cho gia đình, cho con cháu thì ở Làng Mai điều này không thấy có. Nếu tại các chùa chiền Việt Nam người ta được uống bia, ở Làng Mai tuyệt đối không có một giọt bia nào. Đó là điều tôi rất lấy làm lạ lùng. Tôi lại được thấy rằng hồn Việt Nam ở trên mảnh đất Làng Mai hàng ngày, hàng ngày quyện với tôi. Rất là kỳ lạ! Một người Việt Nam sử dụng ngôn ngữ của những người da màu đen vàng, trắng, đỏ và thuyết phục hàng ngàn hàng ngàn con người mang lều bạt đến ở hàng tuần, hàng tháng để rồi sau đó trở về với niềm vui rằng mình được nghe những điều tốt đẹp. Đó là những điều rất hay của Làng Mai. Tôi mong các vị nếu có điều kiện thì xin đến Làng Mai để hưởng không khí đó. Chính vì thế cho nên đã từ giã Làng Mai rồi mà sau đó tôi lại phải quay trở về vào ngày mùng bốn tháng chín để gặp lại Sư Ông và để cùng tăng thân Làng Mai đi hái những quả mận, sau đó về ngào và làm thành những lọ mứt mận để bán ra lấy tiền cùng với số thu hoạch trong quá trình giảng thoại của Sư Ông để cứu giúp tất cả những trẻ em nghèo. Sư Ông là một con người kỳ diệu bằng khẩu và ý của mình khiến cho người ta thay đổi. Nhưng tôi thấy Sư Ông quá khiêm tốn chưa nói về phương diện thân. Nay tôi phải nói ra: Chính Sư Ông là người đã bỏ rất nhiều tiền để cứu vớt trẻ em nghèo ở trên thế giới này và đặc biệt là ở Việt Nam. Tôi biết điều ấy vì tôi đã theo dõi hàng năm trong mười năm qua. Khi người Việt bỏ nước ra đi, Sư Ông là người đầu tiên thuê một chiếc tàu để đi cứu vớt họ. Ngày nay chúng ta đón tiếp Việt kiều, đô la rủng rẻng về rất dễ dàng và rất vui vẻ. Nhưng việc đi cứu vớt người Việt vào những năm 80 là việc khó. Sư Ông đã làm việc đó. Cho nên về phương diện thân tôi nghĩ Sư Ông nên cho chúng ta biết và biết rõ hơn nữa. Đó là những xúc cảm của tôi, những xúc cảm lớn của tôi. Cho nên đêm mùng bốn tháng chín năm 94 tôi không ngủ, nhìn ra vườn Mai mênh mông như thế tôi đã làm một bài thơ chữ Hán để tặng Sư Ông và tăng thiền Làng Mai. Sáng hôm sau tôi đọc tặng tăng thiền Làng Mai và Sư Ông. Hôm nay cho phép tôi được đọc lại bài thơ này để tặng lại Làng Mai:
Trùng đáo mai hương thiền viện. Mai hương thượng hạ hữu lâm tuyền Ốc kết sâm si ấm thụ biên Hoàng bạch hắc thâm đồng hướng Phật Việt Anh Pháp Đức nhất ngôn thiền Sư hành đồ tập như vân vũ Chung khấu san đình tự liễu duyên Dạ lãnh mai đôi ba nguyệt lảng Quỳnh lâm phục hoạt tại Tây thiên.
Tôi cũng xin đọc bài thơ dịch để tặng quý khách và tất nhiên là tặng Sư Ông và tăng thiền Làng Mai một lần thứ hai.
Làng Hồng hai xóm suối rừng vây Lều bạt nhấp nhô dưới bóng cây Tu Bụt đen vàng nâu trắng đủ Lời thiền Việt Pháp Đức Anh đầy Trò theo thầy bước như mây nổi Chuông nhắc người ăn lắng phút giây Đêm lạnh vườn Mai lay sóng nguyệt Quỳnh lâm sống lại dưới trời Tây.
Kết thúc và trao quà lưu niệm.
Một vị trong ban tổ chức:
Thay mặt toàn thể câu lạc bộ, chúng tôi xin chân thành cảm ơn Thiền sư Thích Nhất Hạnh về bài nói chuyện đầy thật sâu sắc và bổ ích hôm nay.
Chúng tôi hy vọng trong tương lai câu lạc bộ sẽ còn được đón tiếp Thiền sư và đoàn Phật giáo quốc tế.
Thay mặt câu lạc bộ, chúng tôi xin chúc Thiền sư sức khỏe và trường thọ. Xin cảm ơn đoàn Phật giáo quốc tế và các vị khách quý, các vị khách quốc tế đã dành thì giờ tham dự buổi sinh hoạt câu lạc bộ hôm nay.
Xin cảm ơn tất cả.
Thiền sư Thích Nhất Hạnh
Chúng tôi có một bức thư pháp và một số sách để tặng Câu Lạc Bộ. Từng Bước nở Hoa Sen là bước chân nào cũng đem lại cho mình hạnh phúc và sự tươi mát, đây là sự thực tập của Làng Mai. Đây là một số sách vừa mới được nhà Nhà Xuất bản Tôn Giáo ấn hành. Số sách chúng tôi viết thì tới hơn 100 cuốn nhưng mà ở đây chỉ có được một số nhỏ thôi, 6 đầu sách.
Ban tổ chức
Thiền sư đã viết trên một trăm tác phẩm và được dịch ra trên hai chục thứ tiếng trên thế giới. Hôm nay chúng tôi thay mặt câu lạc bộ xin cảm ơn Thiền sư và kính chúc Thiền sư sức khỏe và trường thọ. Đây là băng nhạc của Thiền sư. Xin thay mặt Câu lạc bộ một lần nữa cảm ơn Thiền sư và cảm ơn đoàn Phật giáo quốc tế và hy vọng trong tương lai chúng ta sẽ còn đón tiếp Thiền sư tại Câu lạc bộ.
[1]. Samiddhi Sutta: Kinh Tam Di Đề (三彌提).
[2]. Sanditthika: (sam-dittha-ika)-trực nhận, hiện thân thọ chứng (To be directly perceived, direct and immediate effect).
[3]. Akalika: vượt thoát thời gian, nghĩa là không có thời gian tính (Beyond limits of time - 'immediate' -ngược lại là kalika).
Bạn đang đọc bản xem trước của tác phẩm. Nhấn nút dưới đây để chuyển sang giao diện đọc sách chuyên nghiệp với đầy đủ công cụ ghi chú và đổi giao diện.
Đọc Tiếp Bản Đầy ĐủĐánh giá & Nhận xét
Chưa có đánh giá nào. Hãy là người đầu tiên!